Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Chu Kim Huyền

Họ tên: Chu Kim Huyền
Ngày sinh: 12/08/1999
Trường: THPT Thượng Cát, Hà Nội
 

1. Goldie

Hồi tôi còn đi nhà trẻ, có một giáo viên tên là Starlily. Cô hay diện váy nhuộm màu cầu vồng kiểu buộc túm và luôn đem theo bánh quy được làm từ granola(*) và hạt lanh. Nó chẳng có tí vị gì cả.

(*). Granola là một loại ngũ cốc thường dùng để ăn sáng, rất phổ biến ở phương Tây.

Starlily dạy bọn tôi phải ngồi yên lúc ăn nhẹ, hắt hơi vào khuỷu tay của chúng tôi, và không được ăn đất nặn (thứ mà dường như hầu hết bọn con nít đều nghĩ là không bắt buộc).

Hôm sau, cô gửi tất tần tật lũ chúng tôi về nhà cùng với một chú cá vàng. Cô trả một đô la để mua mười con tại một cửa tiệm thú cưng. Cô ấy còn giảng giải cho bố mẹ chúng tôi một hồi trước khi đưa tụi tôi về.

"Mấy chú cá vàng này sẽ dạy cho con các bác về vòng tuần hoàn của cuộc sống." Cô giải thích, "Cá vàng không sống được quá lâu."

Tôi đã mang chú cá của tôi về và đặt tên cho nó là Goldie như bao đứa trẻ khác trên thế giới, cho rằng chúng là vàng nguyên chất. Nhưng té ra Goldie đúng một loại vàng nguyên chất.

Bởi Goldie không chết.

Ngay cả khi tất cả lũ cá của lớp tôi đã tung tăng trong những chiếc bể tuyệt đẹp trên bầu trời, Goldie vẫn còn sống. Vẫn còn sống khi tôi vào mẫu giáo. Vẫn sống đến lúc tôi lên lớp một. Vẫn sống nhăn răng khi tôi lên lớp hai, lớp ba và cả lớp bốn.

Cuối cùng, vào một buổi sáng cuối năm học lớp sáu, tôi bước vào bếp và trông thấy chú cá của tôi đang phơi bụng nổi lềnh phềnh trong bể.

Mẹ tôi làu bàu khi tôi nói cho bà biết. "Nó chẳng sống được bao lâu." Bà nói.

"Mẹ đang nói gì thế? Nó đã sống được tới tận bảy năm cơ mà!"

Bà bật cười và nói: "Ellie, nó không phải con Goldie ban đầu đâu. Con đầu tiên chỉ sống được qua hai tuần thôi. Khi nó chết, mẹ đã mua một con khác rồi thả vào chiếc bể này. Nó đã đựng rất nhiều cá qua từng ấy năm."

"Đây là con thứ mấy hở mẹ?"

"Số mười ba đen đủi." Mẹ tôi đáp kèm theo một cái liếc xéo.

"Chúng đều không may mắn mà." Tôi chỉ rõ ra.

Chúng tôi mai táng chú cá thứ mười ba trong bồn cầu và hỏi xin mẹ, liệu rằng chúng tôi có thể nuôi một chú chó không.

2. Những bức ghép

Chúng tôi sống trong một căn nhà nom như chiếc hộp đựng giày. Có hai phòng ngủ và một phòng tắm, còn vệ sinh thì luôn trong tình trạng tắc nghẽn. Tôi đoán rằng nó bị ám ảnh bởi những con cá bị nước dội xuống đó.

Sân sau của chúng tôi nhỏ xíu - là một tấm bê tông chỉ vừa vặn đủ để chứa bàn ghế. Đó là lý do mà mẹ không cho tôi nuôi chó. Bà nói điều đó không thể thực hiện được, một con chó cần có một khoảnh sân thực sự để chạy long nhong trong đó.

Cô Nicole, bảo mẫu của tôi, bước vào bếp, nơi tôi đang ráp hình.

Nó chiếm quá nửa chỗ trên bàn.

"Cháu cứ làm việc với nó suốt thôi, Ellie ạ." Cô nói, "Có bao nhiêu miếng ghép thế?"

"Một nghìn ạ." Tôi đáp.

Đó là bức hình thành phố New York - khung cảnh đường phố và những chiếc xe tắc-xi màu vàng. Tôi ưa trò ghép hình. Tôi thích mày mò tìm cách ráp chúng vừa khớp với nhau. Làm sao để gắn hai đường cong vào nhau với góc độ hoàn hảo cho miếng ghép ở góc.

"Rồi đến một ngày nào đó, cô sẽ đứng trên sân khấu Broadway", Cô ấy nói.

Cô Nicole có mái tóc dài óng màu bơ, có vẻ như cô ấy nên đi quảng cáo dầu gội đầu. Cô diễn vai Juliet trong vở Romeo và Juliet do mẹ tôi đạo diễn tại một trường cấp ba ở địa phương. Mẹ tôi là giáo viên dạy kịch và ba tôi là diễn viên. Đôi khi tôi tự hỏi không biết liệu tôi có bị đưa nhầm lúc sinh hay không. Tôi run cầm cập khi lên sân khấu (Tôi đã từng thấy vô số diễn viên bị nói nhầm thoại), và tôi cũng chẳng mặn mà gì lắm với công việc ở hậu trường (Thành thử quần áo của tôi luôn bốc hơi).

"Ồ. Mẹ cháu gọi nè. Mẹ cháu bảo sẽ về muộn," Nicole nói. Gần như chưa kịp nghĩ gì, cô ấy đã bồi thêm, "Phải làm gì đó để đưa ông của cháu ra khỏi đồn cảnh sát."

Trong phút chốc, tôi tưởng mình nghe nhầm. "Cái gì cơ?" Tôi hỏi. "Ông có làm sao không?"

Cô ấy nhún vai. "Mẹ cháu không nói. Nhưng chị ấy bảo chúng ta có thể gọi pizza ăn."

Một tiếng sau, bụng tôi đã ních đầy bánh pizza, nhưng tôi vẫn chưa hết hoang mang.

"Mẹ cháu có nói tại sao ông cháu lại ở đồn cảnh sát không ạ?" Tôi hỏi.

Nicole tỏ vẻ bối rối. "Không. Ông ấy sẽ gặp nhiều rắc rối lắm à?"

Tôi lắc đầu, "Cháu không nghĩ vậy. Ý cháu là, ông đã già rồi." Tôi nói.

"Ông cháu bao nhiêu tuổi?"

Tôi không chắc nữa. Thực ra tôi chưa bao giờ nghĩ về điều đó. Thực sự. Bao giờ trông ông cũng có vẻ "già" đối với tôi: những nếp nhăn, mái tóc hoa râm, chống gậy. Người ông mà các bạn vẫn thường thấy.

Cả năm bọn tôi chỉ được gặp ông hai hay ba lần, thường thường là ở một khách sạn kiểu Trung Hoa. Ông luôn gọi món nấm gà thái lát và lén lấy trộm gói xì dầu mang về nhà. Tôi thường tự hỏi ông định làm gì với chúng. Ông sống không xa chỗ bọn tôi, nhưng quan hệ giữa ông và mẹ tôi không được tốt cho lắm. Ông là nhà khoa học và ông nói, kịch không phải là một công việc thực thụ. Đến giờ ông vẫn còn bực mình vì mẹ đã không học trường Harvard như ông khi xưa.

Tiếng còi xe hú inh ỏi từ phía đằng xa.

"Có lẽ ông ấy gặp tai nạn giao thông chăng?" Nicole gợi ý. "Cô chả hiểu sao giới trẻ cứ bị buộc tội trong khi họ chẳng làm gì hết, bởi người già mới là những tay lái tệ."

"Ông cháu không còn lái xe nữa."

"Hay ông ấy bị lạc đường." Nicole vỗ đầu. "Bác gái bên cạnh nhà cô mắc chứng Alzheimer đấy. Bác ấy suốt ngày ra ngoài. Cảnh sát toàn phải đưa bác về nhà." Giọng điệu của cô ấy như thể đang miêu tả một con chó vậy.

"Đáng thương quá." Tôi nói.

Cô ấy gật đầu. "Cực kì đáng thương. Lần cuối cùng bác ấy bỏ nhà đi lang thang, đã bị một chiếc xe tông phải! Sao mà ngớ ngẩn thế nhỉ?"

Tôi nhìn cô chòng chọc, há hốc miệng.

"Nhưng cô đảm bảo là ông của cháu sẽ ổn thôi." Cô nói.

Rồi cô ấy hất tóc ra đằng sau và mỉm cười. "Ê này! Có muốn làm chút bỏng ngô và xem một bộ phim không?"

3. Chiếc nhẫn

Làn gió ấm áp nhẹ nhàng thổi qua cửa sổ phòng ngủ của tôi. Tôi sống ở vùng vịnh San Francisco, đến cuối tháng Chín, ban đêm ở đây rất mát mẻ. Nhưng buổi tối thì nóng hầm hập, giống như mùa hè không chịu lùi đi vậy.

Tôi từng thấy thích cách trang trí phòng ngủ của mình, song dạo này thì tôi lại không chắc cho lắm. Trên tường in đầy dấu tay của tôi và người bạn thân nhất của tôi, Brianna. Chúng tôi bắt đầu làm việc đó từ hồi lớp một và mỗi năm đã tăng thêm biết bao nhiêu dấu tay. Bạn có thể thấy dấu tay của tôi trở nên lớn hơn, nó giống như một chiếc hộp thời gian chứa đựng cuộc sống của tôi vậy.

Nhưng bọn tôi chưa hề làm điều đó vào năm học này, hay thậm chí là hè này, bởi Brianna đã tìm thấy niềm đam mê của cậu ấy: Bóng chuyền. Bây giờ cậu ấy bận rộn từng giây với trạm xá, những bài tập và các giải đấu vào cuối tuần. Sự thực là, ngay đến tôi cũng không chắc liệu cậu ấy có còn là bạn thân nhất của tôi không nữa.

Khi cánh cửa ga-ra cuối cùng cũng kéo lên thì trời đã khuya. Tôi nghe thấy tiếng mẹ nói với Nicole ở trước cửa. Tôi đi đến chỗ họ.

"Cám ơn em đã ở lại." Mẹ nói.

Nom mẹ có vẻ mệt rã rời. Mascara dưới mắt bị lem, lớp son môi đỏ bị trôi mất. Màu tóc bẩm sinh của mẹ tôi là vàng sậm giống như tôi, song mẹ đã nhuộm sang màu khác. Hiện giờ, nó có màu tím.

"Có gì đâu chị." Nicole đáp. "Bố chị sao rồi ạ?"

Một biểu cảm khó hiểu xẹt qua gương mặt mẹ. "À, ông ấy ổn. Cảm ơn em đã hỏi thăm. Em có cần đi nhờ xe về nhà không?"

"Em ổn mà!" Nicole nói. "À mà Lissa này, em có vài tin vui đó."

"Ừ?"

"Em vừa kiếm được việc làm ở một trung tâm thương mại! Tuyệt không?"

"Chị không biết là em đang tìm việc đấy." Mẹ tôi gượng gạo nói.

"Vâng. Em cũng không ngờ mình lại có được công việc này. Nó quả là một cơ hội lớn. Chỗ bấm khuyên tai trong trung tâm!"

"Bao giờ thì em bắt đầu làm việc?" Mẹ hỏi.

"Đây chính là phần khó này. Họ muốn em bắt đầu đi làm từ chiều mai. Thế nên em không thể trông nom Ellie được nữa. Em định thông báo cho chị sớm hơn, nhưng…"

"Chị hiểu mà." Mẹ tôi nói, song tôi có thể nhận thấy sự kìm nén trong giọng bà.

Nicole quay ra tôi. "Cô quên nói cho cháu biết. Cô được phép bán giảm giá cho cháu. Vì thế hãy đến đây sắm sửa bất cứ khi nào nhé."

"Dạ vâng." Tôi nói.

"Em phải về đây," cô ấy nói. "Chị ngủ ngon nhé!"

"Ngủ ngon," Mẹ tôi lặp lại.

Tôi đứng ở khung cửa với mẹ và nhìn cô ấy chìm dần vào bóng tối.

"Cô ấy đã nghỉ việc rồi ư?" Tôi hỏi.

Tôi bị sốc nhẹ.

Mẹ tôi gật đầu. "Việc này nên trở thành một ngày đáng chúc mừng."

Tôi nhìn đăm đăm vào màn đêm để bắt lấy cái liếc cuối cùng của cô bảo mẫu, song lại trông thấy một người khác: một cậu con trai tóc dài.

Anh ta đứng dưới tán cây cọ già cỗi ở bãi cỏ phía trước mặt chúng tôi. Những chiếc lá cọ to màu nâu rụng đầy đất, và mẹ tôi nói nó cần phải bị đốn xuống.

Anh ta có thân hình gầy gò nhưng khá cân đối. Khoảng chừng mười ba, hoặc mười bốn tuổi? Đôi lúc rất khó nói đối với con trai.

"Cô cần phải đi đổ rác," Anh ta nhắc mẹ tôi.

Ngày mai là ngày đổ rác, thùng rác của những nhà hàng xóm xung quanh bày la liệt trên đường phố.

"Cậu có thể vào nhà trước không?" Mẹ tôi nói.

"Và khi nào là lần cuối cô chăm bón cho bãi cỏ này vậy?" Cậu ấy hỏi. "Đám cỏ dại này?"

"Chúng héo rũ rồi." Mẹ tôi nói, sốt ruột cầm nắm đấm cửa.

Tôi đoán anh ta là một trong những học sinh của mẹ, họ thường giúp mẹ tôi chuyển đồ vào hoặc ra khỏi chiếc xe tải to cồng kềnh và méo mó của bà.

"Cô cần phải chăm sóc ngôi nhà của mình nếu cô muốn duy trì giá trị của nó," anh ta nói.

"Vào ngay đi!"

Anh ta miễn cưỡng nhấc chiếc túi trống lên và bước vào nhà chúng tôi.

Anh ta không giống lũ trẻ làm trong nghề kịch. Chúng thường mặc quần bò và áo phông, những chất liệu dễ để làm việc. Còn anh ta thì mặc một chiếc áo sơ mi kẻ sọc nhàu nhĩ, chiếc quần kaki làm bằng vải pô-li-ét-xte, chiếc áo khoác vải tuýt với mảnh vá ở khuỷu tay và đi giày da. Nhưng đôi tất của anh ta mới là đặc biệt nhất: đôi tất màu đen dùng để đi khi mặc lễ phục. Bạn sẽ thấy cực ít đứa con trai ở trường cấp 2 đi loại tất này. Có vẻ anh ta đang trên đường đến lễ bar mitzvah(*) của mình.

(*). Bar Mitzvah là một nghi lễ tôn giáo đánh dấu tuổi trưởng thành.

Anh ta ngó tôi với vẻ soi mói.

“Em có tên trong bảng danh dự không?”

Tôi giật mình, nhưng vẫn trả lời.

“À ừm… cho đến nay bọn em chưa từng nhận được phiếu thành tích học tập nào.”

Có gì đó nom rất quen ở cậu con trai này . Tóc anh ta màu nâu sẫm, bên trên lởm chởm, phía dưới nhuộm màu xám. Một diễn viên trong buổi biểu diễn của mẹ, có lẽ thế?

“Anh là ai?” Tôi hỏi anh ta.

Anh ta đánh trống lảng.

“Em cần đạt điểm cao các môn nếu muốn thi lấy bằng tiến sĩ.”

"Cô không thể bắt đầu quá sớm. Nhắc mới nhớ," anh ta nói, nhìn quần áo của mẹ tôi với vẻ châm biếm, "đây chính là thứ mà cô mặc để đi làm sao?"

Mẹ tôi thích lục lọi tủ quần áo đựng trang phục diễn kịch trong phòng để đồ của trường học. Sáng nay, mẹ ra khỏi nhà trong chiếc váy xa-tanh màu đen dài quét đất phối với áo khoác lửng cùng áo sơ mi cướp biển trắng xếp ly.

"Có lẽ cô nên cân nhắc về việc mua một bộ âu phục tử tế," anh ta đề nghị.

"Vẫn bị mắc kẹt trong thời kỳ đồ đá. Tôi biết rồi," mẹ tôi đáp nhanh.

Sau đó anh ta quay sang ngó tôi, sờ vào bộ đồ ngủ áo ba lỗ và quần cộc của tôi.

Anh ta nói, "Tại sao đồ ngủ của em ngắn tũn vậy? Hay em cũng là người đa tình giống mẹ em?"

"Tất cả đứa con gái ở tuổi nó đều mặc vậy hết," mẹ trả lời giùm tôi. "Và tôi không phải là người đa tình!"

"Cô hẳn là phải đa tình đến mức trốn đi theo trai chứ nhỉ," anh ta nói.

"Tôi đã từng yêu," mẹ tôi nghiến răng đáp.

"Thời gian làm tiến sĩ sẽ kéo dài hơn thời gian yêu rất nhiều," anh ta đáp, "Chưa quá muộn để quay lại trường học. Cô vẫn có thể lấy được một cái bằng chân chính."

Có gì đó về tất cả những điều này kích thích sự trao đổi trong trí óc tôi. Nó hệt như một bộ phim tôi đã từng xem.

Tôi quan sát cậu con trai - đuôi tóc màu tro, cách anh ta đứng thật thoải mái ở đại sảnh, cái cách bàn tay phải của anh nắm vào mở ra như thể dùng để nắm bắt vật gì đó theo thói quen.

Nhưng chiếc nhẫn vàng to tướng treo lỏng lẻo ở ngón giữa của anh ta đã thu hút sự chú ý của tôi. Nó là một chiếc nhẫn trường học, giống cái loại mà bạn có thể kiếm được trong trường đại học, nom nó cũ kĩ, rỉ sét và ở giữa có đính một viên đá quý màu đỏ.

"Trước đây em đã từng trông thấy chiếc nhẫn này rồi," tôi nói, sau đó cố hồi tưởng lại tôi đã từng nhìn thấy nó trên tay ai. Tôi mở to mắt nhìn anh ta.

"Ông nội?" Tôi kinh ngạc thốt lên.



4. Phù thủy

"Cháu tưởng là ai?" ông hỏi, "Tiên răng chắc?"

Ông trông như một cậu bé mười ba tuổi. Nhưng khi tôi nhìn ông ở khoảng cách thật gần, tôi có thể trông thấy những dấu hiệu của ông nội. Đôi mắt màu xanh nước biển. Khuôn miệng có chút kì dị của ông. Cái cách hai hàng lông mày giao nhau.

"Đây chính là phép thuật ạ?" Tôi hỏi.

Ông bĩu môi và liếc mẹ tôi. "Chị nuôi nấng cháu gái của tôi kiểu gì mà để nó tin vào phép thuật thế này? Đây là chuyện sẽ xảy ra khi chị theo đuổi cái nghề kịch này đấy." Ông nói từ "kịch" như thể nó là một từ bậy vậy.

"Sao cũng được, ba ạ," mẹ tôi nói với giọng chán nản.

"Đây chính là khoa học, đơn giản và dễ hiểu," ông nói với tôi.

Nhưng tôi không thấy nó đơn giản tẹo nào và chỉ biết lắc đầu.

Ông bực bội thở dài. "Rõ ràng quá còn gì. Ông đã phát minh ra phương pháp đảo ngược lại quá trình lão hóa bằng cách tái tạo các tế bào. "