Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Lê Chí Trung

Người dự thi: Lê Chí Trung - Đại học Kinh tế Quốc dân
....................................
GOLDIE
Khi còn đang học tiền mẫu giáo, cô giáo dạy tôi tên là Starlily. Cô hay mặc kiểu váy theo phong cách Tie Dye với họa tiết cầu vồng và thường đem theo bánh quy làm từ yến mạch và hạt lanh ăn nhạt thếch.
Starlily dạy chúng tôi phải ngồi yên trong giờ ăn nhẹ, che miệng bằng khuỷu tay khi hắt xì và khôngđược ăn bột nặn Play-Doh (Mà hầu hết lũ trẻ đều cho rằng không bắt buộc). Rồi một ngày, cô tặng từng đứa chúng tôimột con cá vàng, mà cô mua được với giá 1 đô la cho 10 con ở cửa hàng vật nuôi. Cô giảng giải cho các phụ huynh một bài học trước khi tiễn chúng tôi về.
“Lũ cá sẽ dạy cho lũ trẻ biết về chu kỳ sống”. Cô giải thích, ”Cá vàng thì không sống lâu được”.
Tôi mang con cá về nhà và đặt tên cho nó là Goldie như bao đứa trẻ khác trên thế giới này nghĩ đó là điều bình thường. Nhưng hóa ra Goldie không bình thường.
Vì Goldie khôngchết.
Thậm chí sau khi những con cá khác lần lượt lên thiên đường dành riêng cho chúng thì Goldie cũng vẫn còn sống. Sống đến khi tôi bắt đầu học mẫu giáo. Đến khi tôi lên lớp 1. Đến khi tôi học lớp 2 rồi lớp 3, lớp 4. Cho đến một buổi sáng năm cuối lớp 5, tôi vào bếp và thấy Goldie đang nằm ngửa bụng lên trời trong bể cá.
Mẹ tôi than thở khi tôi kể với bà. “Nó sống cũng không hề lâu,” bà nói.
“Mẹ nói gì cơ?” Tôi hỏi. “Nó sống những 7 năm lận!”
Mẹ cười với tôi và nói, “Ellie, đấy không phải con Goldie gốc mà cô Starlily đã tặng con đâu. Con Goldie sống được có 2 tuần thôi. Mẹ đã mua một con khác rồi thả vào bể sau khi nó chết. Cứ như thế số lượng cá cũng tăng dần qua các năm.”
“Vậy đây là con thứ mấy?”
“Là con thứ 13, con số xui xẻo,” mẹ nói với một cái nhìn hài hước.
“Bọn chúng đều xui xẻo cả,” Tôi chỉ ra.
Chúng tôi tổ chức cho Goldie thứ 13 một lễ tang bên bồn cầu rồi tôi hỏi mẹ liệu chúng tôi có thể nuôi chó không.

TRÒ CHƠI GHÉP HÌNH
Chúng tôi sống trong một căn nhà trông như một chiếc hộp đựng giầy với 2 phòng ngủ và một phòng tắm, trong phòng tắm có cái bồn cầu suốt ngày bị tắc. Tôi thầm nghĩ chắc cái bồn cầu bị ám bởi những con cá đã từng bị dội xuống ở đó.
Sân sau nhà khá nhỏ—chỉ là phiến bê tông vuông đặt vừa đủ một cái bàn và vài cái ghế. Đó là lý do mẹ tôi không cho tôi nuôi chó vì như thế là không công bằng, lũ chó cần một cái sân rộng để có thể chạy nhảy xung quanh.
Chị trông trẻ Nicole đi vào bếp khi tôi đang chơi trò ghép hình.Trò chơi như ngốn hết cả diện tích của cái bàn.
“Em đã xếp nó rất lâu rồi đấy, Ellie,” chị nói. “Nó có bao nhiêu mảnh vậy hử?”
“Một ngàn,” Tôi đáp.
Đó là một bức ảnh về thành phố New York—khung cảnh đường phố với những chiếc taxi màu vàng. Tôi yêu trò ghép hình. Tôi thích việc cố gắng tìm ra cách màmọi thứ khớp với nhau. Cách mà những đường viền được ghép lại và cái góc nhọn hoàn hảo của mảnh ghép ở góc.
“Một ngày nào đó chị sẽ được diễn ở Broadway,” Nicole nói với tôi.
Nicole sở hữu một mái tóc màu bơ dài và trông như là chị nên tham gia một quảng cáo về dầu gội đầu. Chị từng diễn vai Juliet trong vở Romeo và Juliet do mẹ tôi đạo diễn hồi còn trung học. Mẹ tôi là giáo viên nhạc kịch của một trường trung học còn bố tôi là một diễn viên. Họ ly dị khi tôi còn bé tí nhưng vẫn coi nhau như những người bạn.
Họ thường nói rằng tôi cần tìm kiếm niềm đam mê của riêng mình. Đặc biệt là họ đều muốn tôi có niềm đam mê đối với sân khấu. Nhưng tôi thì không. Nhiều khi tôi tự hỏi có phải mình được sinh ra trong nhầm gia đình hay không. Việc ở trên sân khấu khiến tôi cảm thấy bồn chồn, lo lắng (Tôi từngthấy rất nhiều diễn viên nhầm lẫn lời thoại của họ), và tôi cũng chả thích cái công việc hỗ trợ ở sau cánh gà (Mà luôn kết thúc với việc đem trang phục biểu diễn đi giặt khô là hơi).
“Ố, dè. Mẹ em vừa gọi. Bà bảo sẽ về muộn,” Nicole nói. Chừng như nhớ ra gì đó, chị thêm vào, “Chuyện gì gì ấy liên quan đến việc đưa ông của em về từ đồn cảnh sát.”
Trong 1 giây, tôi nghĩ là mình nghe nhầm.
“Sao cơ?” Tôi hỏi. “Ông ổn chứ ạ?”
Chị nhún vai. “Mẹ em không nói rõ. Nhưng bà có bảo chúng ta đặt pizza về mà ăn.”
Một tiếng sau, bụng tôi lúc này đã ních đầy pizza nhưng tôi vẫn còn băn khoăn.
“Mẹ em có nói gì về lý do ông em bị cảnh sát giữ lại không?” Tôi hỏi.
Nicole trông khá bối rối. “Không hề. Mà ông có hay dính vào rắc rối gì nhiều không?”
Tôi lắc đầu.”Em không nghĩ vậy. Ý em là, ông cũng già rồi mà,” Tôi nói.
“Ông bao nhiêu tuổi rồi?”
Tôi không chắc nữa. Thực sự thì tôi chưa từng nghĩ về điều này. Ông luôn luôn trông có vẻ “già” đối với tôi: những nếp nhăn cùng mái tóc bạc và chiếc gậy chống. Một kiểu mẫu ông bà điển hình.
Chúng tôi chỉ gặp ông 2 đến 3 lần một năm, thường là ở một nhà hàng Trung Quốc. Ông luôn gọi món nấm gà lát và thường nhón lấy mấy gói nước tương đem về nhà. Tôi thường hay thắc mắc không biết ông định làm gì với mấy gói nước tương đó. Nhà ông cũng không xa nhà tôi cho lắm, nhưng ông và mẹ lại không được hòa thuận. Ông là một nhà khoa học và ông cho rằng làm công việc sân khấu không phải là một nghề nghiệp thực sự. Ông vẫn còn giận mẹ vì mẹ không chịu vào Harvard học như ông đã từng.
Tiếng còi xe ở đâu đó cất lên.
“Hay là ông vướng vào một vụ tai nạn xe nhỉ?” Nicole gợi ý. “Chả hiểu sao các thanh niên ra đường toàn bị bắt trong khi người già mới là những tay lái tồi.”
“Ông đâu còn lái xe nữa.”
“Cũng có thể là ông đi lang thang đâu đó mà không báo lại với ai.” Nicole vỗ nhẹ lên đầu. “Người hàng xóm của chị mắc chứng Alzheimer. Bà ấy suốt ngày đi ra ngoài để rồi cảnh sát luôn phải đi tìm và hộ tống bà về nhà.”
Nghe như chị ấy đang mô tả một chú chó vậy.
“Thật đáng buồn,” Tôi nói.
Nicole gật đầu. “Rất là đáng buồn. Lần cuối bà ấy bỏ đi thì bị một chiếc xe đụng phải! Thật điên rồ, phải không?”
Tôi há hốc miệng nhìn chị chằm chằm.
“Nhưng chị tin chắc ông em sẽ ổn thôi,” chị nói.
Rồi chị hất mái tóc ra sau và mỉm cười. “Này, em có muốn làm chút bỏng ngô rồi xem một bộ phim không?”

CHIẾC NHẪN
Làn không khí ấm áp lùa vào cửa sổ phòng tôi. Chúng tôi sống ở khu Vịnh, dưới cái bóng của San Francisco, và những buổi tối cuốitháng 9 có thể trở nên mát mẻ. Nhưng tối nay trời lại khá nóng, cảm tưởng như mùa hè từ chối việc rời khỏi chốn này.
Tôi từng thích cách trang trí phòng ngủ của mình, nhưng gần đây tôi cũng không chắc lắm về điều đó. Bức tường được che phủ bởi những dấu tay của tôi và người bạn thân nhất của tôi, Brianna. Chúng tôi bắt đầu việc in dấu tay lên tường từ hồi lớp 1 và cứ thế những dấu tay tăng lên dần qua các năm. Bạn có thể thấy dấu tay nhỏ nhắn của tôi dần trở nên lớn hơn, giống như một thiết bị Time Capsule lưu trữ dữ liệu về cuộc đời tôi. (Time Capsule theo cách dịch này được hiểu là một thiết bị được sản xuất bởi Apple có dung lượng trống giúp lưu trữ dữ liệu).
Cách dịch khác: … trông như một chiếc hộp thời gian chứa đựng cả cuộc đời của tôi vậy.
Nhưng chúng tôi chưa in dấu tay nào trong năm nay, hay thậm chí trong mùa hè này, vì Brianna đã tìm ra niềm đam mê của cô ấy: bóng chuyền. Cô ấy bận rộn suốt ngày với những trạm y tế, những buổi luyện tập cùng các giải đấu cuối tuần. Thực sự thì, tôi cũng không chắc liệu cô ấy có còn là bạn thân của tôi không.
Cũng đã muộn khi cánh cửa gara cuối cùng cũng rè rè mở ra. Tôi nghe thấy mẹ tôi nói chuyện với Nicole ở sảnh trước, tôi đi về phía họ.
“Cảm ơn cháu đã ở lại,” mẹ nói với Nicole.
Mẹ trông có vẻ kiệt quệ. Mascara chảy xuống dưới 2 mắt, son môi màu đỏ cũng dần nhạt phai. Mái tóc màu vàng nhạt giống như tóc tôi đã bị nhuộm lại. Giờ thì nó mang màu tím.
“Không có gì ạ,” Nicole trả lời. “Bố của cô ổn chứ?”
Một cảm xúc khó tả thoáng hiện trên khuôn mặt mẹ tôi. “Ồ, ông ấy ổn. Cảm ơn cháu đã quan tâm. Cháu có cần cô đưa về không?”
“Cháu ổn mà!” Nicole nói. “Nhân tiện thì, cô Lissa, cháu có một số tin vui đây!”
“Ừm?”
“Cháu đã xin được việc ở chỗ trung tâm mua sắm! Tuyệt phải không cô?”
“Cô không biết là cháu đang tìm việc” mẹ nói, một cách bối rối.
“Vâng, cháu cũng không nghĩ là mình được tuyển. Đây thực sự là một cơ hội lớn. Trong cái khu xỏ khuyên tai ấy cô!”
“Khi nào cháu bắt đầu công việc?” mẹ hỏi.
“Đây là phần làm cháu băn khoăn. Họ muốn cháu bắt đầu làm việc vào chiều mai. Như vậy cháu không thể trông nom Ellie được nữa. Cháu đáng lẽ nên thông báo trước cho cô biết, nhưng…”
“Cô hiểu,” mẹ trả lời. Tôi có thể nghe được sự căng thẳng trong giọng nói của bà.
Nicole quay về phía tôi. “Chị quên không nói với em. Chị có một khoản khuyến mãi dành cho em! Tuyệt vời đúng chứ? Vậy nên hãy đến bất cứ lúc nào và mua sắm nhé.”
“Ừm, được thôi ạ,” Tôi trả lời.
“Có lẽ cháu nên về thôi,” chị nói. “Chúc ngủ ngon!”
“Chúc ngủ ngon,” mẹ lặp lại.
Tôi đứng ở cửa với mẹ và nhìn Nicole khuất dần vào màn đêm.
“Chị ấy vừa bỏ việc đấy à?” Tôi hỏi. Cảm thấy hơi sốc.
Mẹ gật đầu. “Ngày này đang dần trở thành một ngày tuyệt vời.”
Tôi nhìn chằm chằm vào màn đêm cố tìm cho được bóng ảnh lờ mờ cuối cùng của người bảo mẫu, nhưng lại thấy một người khác: một cậu bé với mái tóc dài. Cậu đứng dưới cây cọ già, đang chết dần chết mòn ở bãi cỏ trước nhà. Cây cọ rụng lá khắp nơi và mẹ tôi bảo rằng nó cần phải được đốn hạ.
Cậu bé trông mảnh khảnh mà rắn chắc. Khoảng 13 tuổi,có khi là 14? Nhiều lúc thật khó mà đoán được tuổi của các cậu bé.
“Cô cần phải để rác ra ngoài,” cậu bé gọi với về phía mẹ tôi. Mai là ngày dọn rác và các thùng rác của những người hàng xóm đã xếp thành hàng trên đường rồi.
“Xin hãy vào trong nhà đã được không?” mẹ tôi nói với cậu bé.
“Và lần cuối cô bón phân cho cỏ là khi nào vậy?” cậu hỏi. “Toàn thấy cỏ dại thôi.”
“Đã muộn rồi đấy,” mẹ trả lời, giữ cánh cửa một cách sốt ruột.
Tôi tự hỏi không biết cậu bé có phải là một trong những học sinh của mẹ không. Thỉnh thoảng họ hay giúp mẹ chuyển đồ vào và dỡ đồ ra khỏi chiếc xe van to và cũ nát của mẹ.
“Cô phải gìn giữ căn nhà nếu muốn duy trì giá trị của nó,” cậu nói.
“Vào nhà đi!”
Cậu bé miễn cưỡng nhặt cái túi vải thô rộng lên và bước về phía nhà chúng tôi.
Cậu bé không giống như những đứa trẻ sân khấu điển hình khác. Họ thường mặc quần jean và áo sơ mi, những thứ đồ giúp họ dễ dàng cử động. Còn cậu thì mặc một cái áo sơ mi sọc, nhăn nhúm cùng chiếc quần khaki sợi polyester, một chiếc áo khoác vải tweed với những miếng vá trên khuỷu tay và một đôi giày lười loafer bằng da thuộc. Nhưng đôi vớ của cậu mới là thứ nổi bật nhất: một đôi vớ màu đen. Bạn không thường thấy những cậu bé trung học dùng loại vớ này. Trông như là cậu đang trên đường đến dự một buổi lễ barmitzvah (Một nghi lễ trưởng thành của đạo Do Thái) vậy.
Cậu nhìn tôi chằm chằm như muốn xuyên thấu tôi.
“Côcó vào được trong bảng danh dự không?”
Giật nảy mình nhưng tôi vẫntrả lời.
“Ừm, chúng tớ vẫn chưa nhận được phiếu thành tích học tập.”
Có gì đó từ cậu bé có vẻ quen thuộc. Mái tóc màu nâu sẫm, xù xì nhuộm xám ở đuôi tóc. Một diễn viên đến từ các show diễn của mẹ, cũng có thể?
“Cậu là ai?” Tôi hỏi.
Cậu phớt lờ.
“Cô cần điểm tốt nếumuốn lấy bằng tiến sĩ.”
“Tiến sĩ? Con bé chỉ mới 11 tuổi!” mẹ nói.
“Bạn không thể bắt đầu quá sớm. Mà nhân tiện nói luôn,” cậu trả lời, nhìn thẳng vào bộ quần áo mẹ mặc, “đấy là thứ mà cô mặc khi đi làm ư?”
Mẹ tôi thì thích “đột kích” các tủ trang phục trong rạp hát ở trường. Sáng nay, mẹ rời nhà với một bộ váy satin đen dài chấm đất cùng chiếc áo khoác bolero cùng màu với một chiếc áo sát nách poet viền đăng ten.
“Có lẽ cô nên cân nhắc mua một bộ âu phục,” cậu gợi ý.
“Tư tưởng mắc kẹt ở thời đồ đá, tôi hiểu rồi” mẹ đáp trả.
Rồi cậu quay lại và nhìn tôi, nhìn vào bộ pajama gồm áo ba lỗ và quần short ống rộng của tôi.
Cậu nói, “Sao bộ pajama của cô ngắn thế? Chuyện gì xảy ra với những bộ áo ngủ dài rồi? Có phải cô cũng cuồng zai giống như mẹ cô không?”
“Con gái ở tuổi nó ai mà chả mặc như thế,” mẹ trả lời thay tôi. “Và tôi không có cuồng zai!”
“Vì cuồng zai nên cô mới trốn đi theo trai,” cậu nói.
“Tôi đã yêu anh ấy,” mẹ đáp qua hàm răng nghiến chặt.
“Bằng tiến sĩ bền vững hơn tình yêu,” cậu trả lời. “Vẫn chưa quá muộn để quay lại trường học. Cô vẫn có thể kiếm được một cái bằng thực sự.”
Có gì đó về cuộc nói chuyện này kích thích trí nhớ của tôi. Nó giống như là xem lại một bộ phim mà tôi đã từng được xem. Tôi quan sát cậu bé – với mái tóc xám điểm bạc, cái cách mà cậu đứng thật thoải mái trên sảnh nhà tôi, cái cách mà tay phải cậu mở ra, khép lại như là định nắm thứ gì đó theo thói quen. Nhưng rồi chiếc nhẫn vàng dầy đeo lỏng lẻo ở ngón giữa của cậu thu hút ánh nhìn của tôi. Đó là nhẫn dành cho sinh viên, giống loại nhẫn mà bạn nhận được khi vào đại học, và trông chiếc nhẫn này khá cũ kỹ, mòn vẹt với một viên ngọc màu đỏ đính ở chính giữa.
“Mình đã từng thấy chiếc nhẫn này trước đó,” tôi nói, rồi tôi bỗng nhớ ra bàn tay đeo nhẫn ấy thuộc về ai.
Tôi nhìn vào cậu bé.
“Là ông?” Tôi thốt lên.
 


PHÙ THỦY
“Thế cháu mong là ai?” ông hỏi. “Tiên răng à?”
Ông trông như một cậu bé 13 tuổi, nhưng khi nhìn gần hơn tôi có thể thấy được những dấu hiệu của ông ngoại. Đôi mắt xanh mọng nước. Cái biểu hiện hơi kỳ cục ở nơi miệng. Cái cách mà cặp lông mày của ông nhíu lại.
“Phải chăng đây là một dạng pháp thuật?” tôi hỏi.
Môi ông cong lên và ông nhìn vào mẹ tôi. “Cô nuôi dạy cháu tôi tin vào pháp thuật? Đó chính là kết quả của việc cô chọn cái ngành nhạc kịch này.” Ông nói từ “nhạc kịch” như thể đây là một từ gì bậy lắm.
“Sao cũng được, thưa bố,” mẹ trả lời, nghe như một cô gái tuổi teen buồn chán.
“Đây là khoa học, rõ ràng và giản đơn,” ông nói với tôi.
Nhưng tôi chả thấy cái gì đơn giản ở đây và cứ lắc lắc đầu.
Ông thở dài bực tức. “Rõ ràng thế còn gì. Ông đang nghiên cứu cách thức đảo ngược quá trình lão hóa thông qua việc tái tạo lại các tế bào sống.”