Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Bảo Châm

Họ và tên: Nguyễn Bảo Châm
Ngày sinh: 28/10/1998
Trường, lớp: Hiện vừa hoàn thành kì thi TH
Địa chỉ liên lạc: 17A ngõ 1 Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Chú cá vàng thứ mười bốn
1.Goldie
Khi tôi học lớp mầm non, tôi có một cô giáo tên là Starlily. Cô mặc những chiếc váy nhuộm màu cầu vồng và luôn mang theo những cái bánh quy được làm với yến mạch và hạt lanh, song chúng chẳng có mùi vị gì cả.
Starlily dạy chúng tôi ngồi yên vào giờ ăn nhẹ, hắt hơi vào khuỷu tay, và không ăn bột nặn Play-doh (điều mà có vẻ phần lớn những đứa trẻ đều cho là tùy thích). Rồi một ngày nọ, cô đưa cho mỗi đứa chúng tôi mang về nhà một chú cá vàng. Cô đã mua chúng với giá mười con một đô-la ở một cửa hàng vật cảnh.Cô ấy nói với bố mẹ chúng tôi một bài thuyết giảng trước khi cho phép bọn tôi ra về.
“Con cá vàng sẽ dạycho lũ trẻ về vòng sinh tử.” Cô giải thích, “Cá vàng không sống được lâu cho lắm.”
Tôi mang chú cá vàng về nhà và đặt tên cho nó là Goldie giống như mọi đứa trẻ khác trên thế giới, đều nghĩ rằng con cá vàng của mình đặc biệt hơn cả.Nhưng hóa ra Goldie đúng là rất khác biệt.
Bởi vì Goldie không chết.
Kể cả sau khi tất cả những chú cá vàng của lũ bạn tôi đều đã lên thiên đường, Goldie vẫn sống. Vẫn sống khi tôi bắt đầu học lớp mẫu giáo.Vẫn sống khi tôi vào lớp một.Vẫn sống khi tôi lên lớp hai và lớp ba và lớp bốn. Và rồi cuối cùng, năm ngoái cũng là vào năm học thứ năm, tôi bước vào bếp vào một buổi sáng nọ và thấy chú cá vàng của tôi đang nổi bập bềnh trong bể cá. 
Mẹ tôi rên lên khi tôi kể cho bà nghe.
“Nó không sống được lâu cho lắm,” bà nói.
“Mẹ nói thế là sao?”Tôi hỏi.“Nó đã sống bảy năm rồi đấy!”
Bà mỉm cười với tôi và nói, “Ellie, đó không phải là Goldie ban đầu. Con cá đầu tiên đã chỉ sống được trong hai tuần. Khi nó chết, mẹ đã mua một con khác và thả nó vào trong bể cá. Đã có rất nhiều con cá trong từng ấy năm.”
“Vậy đây là con thứ bao nhiêu?”
“Thứ mười ba xui xẻo,” bà nói với cái nhìn miễn cưỡng.
“Tất cả bọn chúng đều xui xẻo,” tôi đính chính.
Chúng tôi tiễn con Goldie Thứ Mười Ba đi bằng một cú giật nước bồn cầu và tôi hỏi mẹ rằng liệu chúng tôi có thể nuôi một con chó hay không.
2. Những miếng ghép hình
Chúng tôi sống trong một ngôi nhà trông giống như cái hộp đựng giày.Có hai phòng ngủ và một phòng tắm, nơi có một cái bồn cầu luôn luôn bị tắc. Tôi thầm nghĩ có lẽ nó bị ám bởi tất cả những con cá từng bị giội trôi xuống đó.
Sân sau của chúng tôi rất nhỏ- chỉ là một khoảng bê tông hầu như không kê vừa một bộ bàn ghế. Đó là lý do mẹ tôi sẽ không cho tôi nuôi chó. Bà nói sẽ thật không công bằng, vì rằng một con chó thì cần một cái sân đàng hoàng tử tế để mà chạy nhảy.
Chị vú em Nicole bước vào bếp, nơi tôi đang lắp một bộ ghép hình.Nó gần như chiếm trọn cả cái mặt bàn.
“Em sẽ mất cả đời để lắp cái đó, Ellie,” chị nói.“Có bao nhiêu miếng thế?”
“Một nghìn,” tôi nói.
Đó là bức tranh thành phố New York- một quang cảnh đường phố với những chiếc tắc-xi màu vàng.Tôi yêu những miếng xếp hình.Tôi thíchviệc cố gắng khám phá ra cáchchúng khớp lại với nhau, cách một đường cong gặp một đường cong và cái góc hoàn hảo của miếng ghép ở phía ngoài cùng.
“Chị sẽ đứng trên Broadway một ngày nào đó,” chị bảo tôi.
Nicole có mái tóc dài óng ả và trông chị giống như người nên xuất hiện trong chương trình quảng cáo dầu gội đầu.Chị từng đóng vai Juliet trong vở kịch Romeo và Juliet mà mẹ tôi đạo diễn ở trường phổ thông trung học của địa phương.Mẹlà một giáo viên dạy kịch của trường cấp ba còn bố tôi là một diễn viên.Họ đã li dị khi tôi còn nhỏ, nhưng vẫn là bạn của nhau.
Họ luôn luôn nói với tôi rằng tôi cần phải tìm ra đam mê của mình.Cụ thể hơn là, họ muốn tôi có đam mê với ngành kịch nghệ.Nhưng tôi thì không thế.Đôi khi tôi tự hỏi liệu có phải tôi sinh ra vào nhầm nhà hay không.Đứng trên sân khấu làm tôi thấy lo lắng (tôi đã chứng kiến quá nhiều diễn viên nói vấp các lời thoại), và tôi cũng chẳng hứng thú gì với những công việc trong hậu trường (rốt cuộc tôi luôn phảigiặt là những bộ đồ diễn).
“À, phải rồi.Mẹ em có gọi điện.Cô ấy sẽ về muộn đấy,” Nicole nói. Như chợt nhớ ra, chị nói thêm, “Chuyện gì đó như đón ông em từ đồn cảnh sát.”
Trong một giây, tôi tưởng mình nghe nhầm.
“Gì cơ?” tôi hỏi.“Ôngem vẫn ổnchứ?”
Chị nhún vai.“Cô ấy không nói.Nhưng cô nói chúng ta có thể gọi một chiếc pizza.”
Một giờ đồng hồ sau, bụng tôi đã đầy nhóc pizza, nhưng tôi vẫn cảm thấyhoang mang.
“Mẹ em có nói gì về chuyện sao ông lại ở đồn cảnh sát không?” Tôi hỏi.
Nicole nhìn có vẻ bối rối.“Không.Ông có thường gây ra rắc rối không?”
Tôi lắc đầu.“Em không nghĩ vậy đâu.Ý em là, ông đã già rồi,” tôi nói.
“Ông bao nhiều tuổi rồi?”
Tôi không chắc lắm.Thật ra là, tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều đó. Chỉ đơn giản là ông luôn luôn trông “già” đối với tôi: nhăn nheo, tóc bạc, chống một cây gậy ba toong.Một người ông thường thấy của tất cả mọi người.
Chúng tôi chỉ gặp ông hai hay ba lần một năm, thường là ở một nhà hàng Trung Quốc. Ông luôn luôn gọi món gà xào nấm thái lát và lấy trộm những gói xốt đậu tương mang về nhà.Tôi vẫn thường tự hỏi ông sẽ làm gì với chúng.Ông không sống xa chúng tôi đến thế, nhưng ông và mẹ tôi không hòa hợp với nhau cho lắm.Ông là một nhà khoa học và nói rằng kịch nghệ không phải là một cái nghề thực thụ.Ông vẫn giận về chuyện mẹ tôi đã không đi học trường Harvard giống như ông.
Một tiếng còi xe cứu thương chợt vẳng lại từ phía xa.
“Có lẽ ông bị tai nạn chăng?”Nicole gợi ý. “Chị không hiểu sao thanh niên cứ thường bị tai tiếng, bởi vì người già lái xe còn tệ hơn nhiều.”
“Ông không còn lái xe nữa.”
“Có thể ông đã đi dạo lang thang.” Nicole vỗ nhẹ vào đầu.“Hàng xóm của chị mắc chứng Alzheimer.Bà ấy cứ đi ra ngoài suốt. Cảnh sát luôn phải đưa bà ấy về nhà.”
Nghe cứ như thể chị đang miêu tả một con chó lạc.
“Thật đáng buồn,” tôi nói.
Nicole gật đầu.“Buồn hết chỗ nói. Lần cuối cùng bà ấy chạy ra ngoài, bà ấy đã bị một cái ô tô đâm phải! Thật điên rồ phải không?”
Tôi nhìn chị chằm chằm với cái miệng há hốc.
“Nhưng chị chắc chắn là ông của em sẽ ổn thôi,” chị nói.
Rồi chị hất mái tóc của chị ra sau và mỉm cười.“Này!Muốn làm ít bỏng ngô và xem một bộ phim không?”

3. Chiếc nhẫn
Luồng không khí ấm nóng lùa qua cửa sổ phòng ngủ của tôi.Chúng tôi sống ở vùng vịnh, trong cái bóng của San Francisco, và những đêm cuối tháng Chín có thể rất mát mẻ.Nhưng đêm nay thì thật nóng bức, như thể mùa hè đang không chịu rời đi vậy.
Tôi đã từng rất thích cách mà phòng tôi được trang trí, nhưng gần đây thì tôi không chắc lắm. Những bức tường được che phủ bởi các dấu tay đầy màu sắc của tôi và người bạn thân nhất, Brianna. Chúng tôi bắt đầu tạo ra chúng từ lớp một và cứ mỗi năm lại thêm nhiều dấu tay hơn. Bạn có thể thấy những dấu tay bé xíu của tôi lớn dần lên, giống như chúng cất giữ thời gian của cuộc đời tôi vậy.
Nhưng chúng tôi vẫn chưa tạo ra cái nào vào năm học này, hay thậm chí là kì nghỉ hè này, bởi vì Brianna đã tìm thấy niềm đam mê của cô ấy: bóng chuyền. Giờ thì cô bé bận rộn đến từng giây với những đợt huấn luyện, những buổi luyện tập và những trận thi đấu. Sự thật là, tôi cũng không dám chắc cô ấy có còn là bạn thân nhất của tôi nữa hay không.
Khi cửa ga-ra cuối cùng cũng mở ra nghe ken két, thì trời đã muộn. Tôi nghe tiếng mẹ nói chuyện với Nicole ở sảnh trước, và tôi đi về phía họ.
“Cảm ơn vì đã ở lại,” bà nói với Nicole.
Trông mẹ cực kỳ mệt mỏi. Mascara bị lem ra phía dưới mắt, còn màu son đỏ thì đã biến mất. Tóc tự nhiên của bà có màu vàng xám nhạt giống như tóc tôi, nhưng bà đã nhuộm nó.Ngay bây giờ, nó có màu tím.
“Không sao đâu,” Nicole đáp lại.“Bố cô ổn chứ?”
Một biểu cảm khó hiểu lướt qua gương mặt mẹ tôi.“Ồ, ông ấy ổn.Cảm ơn cháu vì đã quan tâm.Cháu có cần cô đưa về không?”
“Cháu tự lo được mà!”Nicole nói.“Nhân tiện, cô Lissa, cháu có một tin rất thú vị đây!”
“Gì thế?”
“Cháu tìm được một việc ở trung tâm thương mại!Chẳng phải là rất tuyệt sao?”
“Cô không biết là cháu đã đi tìm việc,” mẹ tôi nói, bối rối.
“Phải rồi, cháu cũng không nghĩ là mình được nhận.Thật là cơ hội to lớn.Đó là một chỗ xỏ khuyên tai ở trung tâm thương mại!”
“Khi nào cháu bắt đầu đi làm?” mẹ tôi hỏi.
“Cái khó là ở chỗ đó.Họ muốn cháu bắt đầu ngay chiều mai.Vì thế cháu không trông Ellie được nữa. Thật tình cháu nên báo cho cô sớm hơn, nhưng…”
“Cô hiểu,” mẹ tôi nói, tôi có thể nghe thấy sự căng thẳng trong giọng nói của bà.
Nicole quay sang tôi. “Chị quên mất không nói với em. Chị được giảm giá đấy! Không tuyệt sao?Thế nên cứ đến bất cứ lúc nào và mua sắm thoải mái nhé.”
“Vâng, được ạ,” tôi nói.
“Đến lúc phải đi rồi,” chị nói.“Chúc ngủ ngon!”
“Chúc ngủ ngon,” mẹ tôi lặp lại.
Tôi đứng ở cửa trước cùng với mẹ và nhìn theo chị rảo bước vào bóng đêm.
“Chị ấy vừa nghỉ việc hả mẹ?” tôi hỏi.Tôi vẫn còn cảm thấy hơi sốc.
Mẹ tôi gật đầu.“Hôm nay quả thật là một ngày đáng nhớ.”
Tôi đưa mắt ra phía màn đêm để nhìn chị vú của tôi lần cuối, nhưng lại thấy một ai đó khác: một cậu bé với mái tóc dài. Cậu ta đang đứng dưới gốc cây cọ già cỗi trong bãi cỏ trước hiên nhà.Nó thả những cái lá to dài màu nâu khắp mọi nơi, và mẹ tôivẫn nói nó cần phải được đốn đi.
Trông cậu bé mảnh dẻ và dẻo dai. Cậu ta có vẻ trạc mười ba tuổi, hay có thể là mười bốn? Đôi khi cũng khó để đoán đúng tuổi đối với con trai.
“Cô cần mang rác ra ngoài đấy,” cậu ta gọi với về phía mẹ tôi. Ngày mai là ngày vứt rác và thùng rác của những nhà hàng xóm đã xếp hàng dài dọc con phố.
“Cậu có làm ơn vào nhà ngay không?” mẹ tôi nói với cậu ta.
“Và lần cuối cô chăm bón cho bãi cỏ là khi nào hả?” cậu ta hỏi.“Có cả cỏ dại đây này.”
“Muộn rồi đấy,” mẹ nói, giữ cánh cửa mở với vẻ mất hết kiên nhẫn.
Tôi tự hỏi liệu cậu ta có phải là một trong những học trò của mẹ không. Đôi khi họ vẫn giúp mẹ chất hoặc dỡ đồ đạc lên xuống cái xe tải to đùng méo mó của bà.
“Cô cần phải giữ gìn ngôi nhà nếu muốn nó giữ được giá trị của nó,” cậu ta nói.
“Vào ngay bây giờ đi!”
Cậu bé miễn cưỡng xách lên một cái túi vải to oạch và bước vào trong ngôi nhà.
Trông cậu ta không giống như cậu bé giúp việc trong đoàn kịch mà ta vẫn thường thấy. Họ thường mặc quần Jeans và áo phông, những thứ quần áo giúp dễ dàng hoạt động. Còn cậu bé này thì mặc một cái áo sơ mi hơi nhàu có đường kẻ sọc rất nhỏ, một chiếc quần soóc bằng vải pôliexte có màu ka-ki, một cái áo khoác may bằng vải tuýt với hai miếng vá ở khuỷu tay, và một đôi giày lười bằng da. Nhưng nổi bật nhất vẫn là đôi vớ của cậu: chúng là loại vớ trang trọng màu đen. Bạn sẽ không mấy khi gặp những cậu bé trung học lại đi kiểu vớ như thế này. Trông như thể cậu đang trên đường tới dựlễ trưởng thành của người Do Thái.
Cậu ta nhìn tôi chằm chằm với đôi mắt sắc sảo.
“Cậu là học sinh ưu tú chứ?”
Tôi giật mình, nhưng vẫn trả lời lại.
“Uh, chúng tớ chưa nhận được bảng thành tích.”
Có điều gì đó ở cậu bé khiến tôi thấy rất quen thuộc.Tóc cậu ta màu nâu sẫm ở phần ngọn bờm xờm, và phần chân thì được nhuộm xám.Một diễn viên từ một trong những vở kịch của mẹ ư, có thể lắm chứ?
“Cậu là ai?” Tôi hỏi cậu bé.
Cậu ta phớt lờ tôi.
“Cậu cần phải có điểm cao nếu sắp tới định học chương trình tiến sĩ, sẽ phải cạnh tranh nhiều đấy.”
“Chương trình tiến sĩ? Con bé mới có mười một tuổi!” mẹ tôi nói.
“Cũng không thể bắt đầu quá sớm.Nói đến cái này,” cậu ta nói, nhìn thẳng vào bộ quần áo của mẹ tôi, “đó là thứ cô mặc đi làm sao?”
Mẹ tôi thích lục lọi tủ đồ diễn ở trường. Sáng nay, bà rời khỏi nhà trong chiếc váy sa-tanh đen dài quét đất và khoác áo khoác bolero ra ngoài chiếc áo sơ mi trắng có diềm xếp nếp kiểu thi sĩ.
“Có lẽ cô nên xem xét việc mua một bộ âu phục tử tế,” cậu ta đề xuất.
“Tôi hiểu rồi, cậu hãy còn kẹt trong thời kỳ đồ đá phải không?” bà phản pháo.
Rồi cậu ta quay đầu nhìn về phía tôi, ngắm nghía bộ đồ ngủ với áo ba lỗ và quần đùi của tôi.
Cậu ta nói, “Sao đồ ngủ của cậu lại ngắn cũn cỡn thế này?Chuyện quái gì đã xảy ra với mấy cái áo ngủ dài?Cậu cũng là đứa mê trai giống mẹ cậu ngày trước đấy à?”
“Tất cả những đứa con gái ở tuổi con bé đều mặc đồ ngủ như thế cả,” mẹ trả lời thay tôi. “Và ngày trước tôi đâu có mê trai!”
“Hẳn phải mê trai tới mức nào mới bỏ nhà đi theo hắn,” cậu ta nói.
“Đó là tình yêu,” bà nói qua hàm răng nghiến chặt.
“Một tấm bằng tiến sĩ thì sẽ bền lâu hơn tình yêu nhiều đấy,” cậu ta đáp lại.“Cũng chưa quá muộn để trở lại trường đâu.Cô vẫn có thể kiếm được một cái bằng tử tế.”
Có điều gì đó trong cuộc chuyện trò qua lại này chạm vào ký ức của tôi.Nó giống như xem lại một bộ phim mà tôi đã từng xem. Tôi nhìn kỹ cậu bé – mái tóc bạc ở chân, cái cách cậu ta đứng rất đỗi thoải mái trong căn phòng của chúng tôi, cách bàn tay phải của cậu ta cứ xòe ra và nắm lại như thể sắp thó lấy cái gì đó theo thói quen. Nhưng chính cái nhẫn vàng nặng trịch đeo lỏng trên ngón tay giữa mới là thứ thu hút sự chú ý của tôi. Đó là một cái nhẫn của trường, giống loại mà bạn vẫn thường được nhận ở đại học, trông nó cũ kỹ, mòn vẹt và có đính một viên đá màu đỏ ở chính giữa.
“Tớ đã từng nhìn thấy cái nhẫn đó trước đây,” tôi nói, và rồi tôi nhớ ra tôi đã nhìn thấy nó trên bàn tay của ai.
Tôi nhìn cậu bé.
“Ông ngoại?”Tôi thốt lên.
4. Thầy phù thủy
“Chứ cháu mong đợi là ai?” cậu ta hỏi. “Nàng tiên răng chăng?”
Trông cậu giống như một cậu bé mười ba tuổi, nhưng khi nhìn thật gần tôi vẫn có thể thấy những dấu vết của ông ngoại. Đôi mắt xanh nước biển mọng nước.Khóe miệng hơi nhếch lên vẻ mỉa mai châm chọc.Cái cách hai hàng lông mày của cậu ta gặp nhau ở chính giữa.
“Đây có phải là một loại phép thuật nào đó không?”
Cậu bé cong môi lên và nhìn vào mẹ tôi. “Cô dạy cháu tôi để nó tin vào phép thuật à?Đây chính là điều xảy ra khi cô học kịch đấy.”Cậu ấy nói chữ “kịch” như thể nó là một từ bậy bạ.
“Sao cũng được, thưa bố,” mẹ tôi nói, nghe giống như một thiếu niên ủ ê chán chường.
“Đây là khoa học, đơn giản và dễ hiểu vậy thôi,” ông nói với tôi.
Nhưng tôi chẳng thấy gì đơn giản ở đây cả và chỉ lắc lắc đầu.
Ông thở dài một cách cáu kỉnh. “Nó rõ ràng quá mà. Ta đã tạo ra cách đảo ngược quá trình lão hóa thông qua việc tái tạo những tế bào.”