Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Đặng Phương Anh

Họ và tên: Nguyễn Đăng Phương Anh

Ngày sinh: 07/05/1995

Cầu Giấy, Hà Nội

CHÚ CÁ VÀNG THỨ MƯỜI BỐN

1. Goldie

Hồi còn đi nhà trẻ, cô giáo tôi tên là Starlily. Cô hay mặc mấy chiếc váy lòe loẹt và suốt ngày mang cho chúng tôi thứ bánh quy nhạt nhẽo làm từ ngũ cốc và hạt lanh.

Cô Starlily dạy chúng tôi phải ngồi thẳng khi ăn, lấy khuỷu tay che miệng khi hắt xì, và không được ăn đất nặn (phần lớn lũ trẻ đều nghĩ là ăn được). Rồi một hôm, cô cho mỗi đứa một con cá vàng mang về. Cô mua chúng ở cửa hàng với giá một đô la mười con. Trước khi để bố mẹ đón chúng tôi về, cô không quên giảng giải cho họ rằng.

“Cá vàng sẽ dạy cho bọn trẻ về vòng đời.” Cô giải thích. “Chúng không sống được lâu.”

Tôi mang một con cá về nhà và đặt tên nó là Goldie. Như mọi đứa trẻ trên thế giới, tôi nghĩ nó là duy nhất trên đời. Vậy mà hóa ra, nó độc nhất thật.

Bởi Goldie không chết.

Kể cả sau khi lũ cá của bọn bạn cùng lớp lên lần lượt thiên đàng của loài cá, Goldie vẫn sống. Nó sống khi tôi học mẫu giáo, vào lớp Một, lên lớp Hai, lớp Ba rồi lớp Bốn. Cuối cùng, năm lớp Năm, tôi xuống bếp vào một buổi sáng và phát hiện con cá của tôi đang bơi ngửa trong bể.

Mẹ tôi rên lên khi tôi kể với bà.

“Nó không sống được lâu.” Mẹ nói.

“Mẹ đang nói gì vậy?” Tôi hỏi. “Nó đã sống 7 năm rồi đấy!”

Mẹ cười với tôi và nói, “Ellie à, đó không phải là con Goldie lúc đầu. Con cá đầu tiên chỉ sống được hai tuần. Khi nó chết, mẹ đã mua một con cá khác và cho vào trong bể. Đã có rất nhiều Goldie trong những năm qua.”

“Đây là con cá thứ bao nhiêu rồi ạ?”

“Số mười ba xui xẻo.” Mẹ tôi nói với ánh nhìn giễu cợt.

“Chúng đều xui xẻo cả.” Tôi kết luận.

Chúng tôi tiễn Goldie Thập tam về với bồn cầu và tôi hỏi mẹ liệu chúng tôi có thể nuôi chó hay không.

 

2

Tranh ghép

Chúng tôi sống trong một ngôi nhà chẳng khác gì một cái hộp đựng giày. Nó có hai phòng ngủ và một phòng tắm với cái bồn cầu lúc nào cũng tắc. Tôi thầm nghĩ nó bị ám bởi lũ cá bị xả trôi xuống dưới.

Sân sau nhà tôi nhỏ xíu – chỉ bằng một tấm bê tông, còn chẳng đủ chỗ để kê một bộ bàn ghế. Chính vì thế mà mẹ tôi không cho nuôi chó. Mẹ nói thật không công bằng khi một chú chó không có cái sân thật sự để chạy nhảy.

Chị trông trẻ của tôi, Nicole, bước vào trong bếp, chỗ tôi đang chơi ghép hình. Bức tranh ghép choán hết cả mặt bàn.

“Em sẽ phải ghép cả đời mất, Ellie ạ.” Chị ấy nói. “Có bao nhiêu mảnh vậy?”

“Một nghìn ạ,” tôi nói.

Đó là bức tranh thành phố New York – một cảnh đường phố với những chiếc taxi vàng. Tôi thích trò ghép hình. Tôi thích tưởng tượng ra cái cách mọi thứ khớp với nhau,những đường cong ghép lại vừa khít và một mảnh góc vuông hoàn hảo.

“Một ngày nào đó, chị sẽ đứng trên sân khấu Broadway.” Chị nói với tôi.

Chị Nicole có mái tóc dài vàng óng. Có vẻ như chị ấy đi đóng quảng cáo dầu gội thì hay hơn. Chị đóng vai Juliet trong vở Romeo và Juliet ở trường trung học do mẹ tôi đạo diễn. Mẹ tôi là giáo viên dạy kịch ở trường trung học, còn bố tôi là một diễn viên. Bố mẹ tôi ly hôn từ khi tôi còn bé, nhưng vẫn là bạn.

Lúc nào bố mẹ cũng bảo tôi phải tìm kiếm đam mê của riêng mình. Đặc biệt, họ thích tôi đam mê với sân khấu. Nhưng không. Đôi khi tôi thấy mình như sinh vào nhầm gia đình ấy. Đứng trên sân khấu khiến tôi lo lắng (Tôi đã chứng kiến nhiều diễn viên nhầm lời thoại), và tôi cũng chẳng thích làm mấy việc hậu trường (Tôi luôn làm mấy bộ phục trang cháy xém).

“Ồ, tuyệt. Mẹ em vừa gọi. Cô ấy sẽ về muộn.” Nicole nói. Sau một giây suy nghĩ, chị thêm vào, “Cô ấy bận đưa ông ngoại em từ đồn cảnh sát về.”

Trong một giây, tôi tưởng mình nghe nhầm.

“Cái gì cơ?” Tôi hỏi. “Ông em không sao chứ ạ?”

Nicole nhún vai. “Mẹ em không nói về vụ này, nhưng bảo chúng ta có thể gọi pizza.”

Một giờ sau, bụng đầy bánh pizza, tôi vẫn hơi bối rối.

“Mẹ em có nói tại sao ông ngoại lại ở chỗ cảnh sát không?” Tôi hỏi.

Nicole trông hoang mang. “Không. Ông em hay gặp rắc rối lắm hả?”

Tôi lắc đầu. “Em không nghĩ vậy. Ông già rồi mà.” Tôi nói.

“Ông em bao nhiều tuổi rồi?”

Tôi không chắc. Thú thực, tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều này. Với tôi, ông lúc nào trông cũng già: Da nhăn nheo, tóc bạc, tay chống gậy. Một người ông điển hình.

Chúng tôi chỉ gặp ông hai hoặc ba lần một tuần, thường là ở nhà hàng Trung Quốc. Lần nào ông cũng gọi món gà xào nấm và vơ luôn mấy gói tương đem về. Tôi thường băn khoăn ông làm gì với chúng. Ông sống không xa chúng tôi lắm nhưng mẹ và ông không hợp nhau. Ông là một nhà khoa học và nói rằng sân khấu không phải là một nghề. Ông vẫn giận mẹ vì đã không vào Harvard giống ông.

Tiếng còi xe từ xa vọng lại.

“Có lẽ ông em bị tai nạn xe.” Nicole gợi ý. “Chị không hiểu tại sao người ta cứ đổ cho thanh niên lái xe ẩu, trong khi người già lái còn ẩu hơn.”

“Ông em không lái xe nữa.”

“Có lẽ ông tản bộ qua.” Nicole gõ đầu. “Hàng xóm nhà chị bị bệnh Alzhemier. Bà ấy cứ bỏ nhà đi suốt. Mỗi lần như vậy, cảnh sát lại phải đưa bà ấy về.”

Nghe cứ như chị ấy đang tả một chú cún con vậy.

“Buồn quá nhỉ?” Tôi nói.

Nicole gật đầu. “Buồn thật. Lần cuối cùng bỏ nhà đi, bà ấy bị một chiếc ô tô tông phải! Thật điên rồ phải không?”

Tôi há hốc mồm nhìn chị ấy.

“Nhưng mà chị chắc ông em sẽ ổn thôi.” Chị nói.

Rồi chị ấy vuốt tóc và cười: “Này! Muốn làm ít bỏng ngô và xem phim không?”

3

Chiếc nhẫn

Luồng không khí ấm nóng luồn qua cửa sổ cạnh giường ngủ của tôi. Chúng tôi sống ở Vùng Vịnh, trong bóng mát của San Francisco. Những đêm cuối tháng Chín thường mát mẻ. Thế nhưng đêm nay lại quá nóng bức, cứ như thể mùa hè đang từ chối rời đi.

Tôi từng thích cách trang trí phòng ngủ của mình, nhưng gần đây, tôi không chắc mình còn thích không nữa. Những bức tường được in đầy những dấu tay của tôi và bạn thân, Brianna. Chúng tôi bắt đầu làm điều này từ hồi học lớp Một và in thêm nhiều dấu tay đều đặn mỗi năm. Bạn có thể thấy những dấu tay nhỏ bé của tôi lớn hơn từng năm, giống như một chiếc hộp thời gian của riêng tôi vậy.

Nhưng chúng tôi vẫn chưa in thêm dấu tay nào trong năm học này, kể cả mùa hè này, bởi Brianna đã tìm thấy niềm đam mê mới: Bóng chuyền. Cô ấy bận rộn suốt ngày với nào là trạm xá, các buổi tập và những trận đấu cuối tuần. Sự thật là, tôi không chắc chúng tôi có còn là bạn thân nữa không.

Mãi tới khuya cửa ga-ra mới kèn kẹt mở ra.  Tôi nghe thấy tiếng mẹ nói chuyện với chị Nicole ở sảnh trước, và tôi đi tới chỗ họ.

“Cảm ơn cháu vì đã ở lại,” mẹ nói với chị Nicole.

Mẹ tôi trông tơi tả. Lớp mascara nhòe xuống dưới mắt và màu son đỏ lem nhem. Mẹ cũng có tóc tự nhiên màu vàng sậm như tôi, nhưng mẹ đã nhuộm. Giờ thì nó màu tím.

“Không có gì ạ,” Chị Nicole trả lời. “Bố cô vẫn ổn chứ ạ?”

Một biểu cảm khó hiểu thoáng qua trên khuôn mặt mẹ. “Ừ thì, ông ấy vẫn ổn. Cảm ơn cháu đã hỏi thăm. Cháu có cần cô đưa về nhà không?”

“Cháu tự về được ạ!” chị Nicole nói. “À nhân tiện, cô Lissa ơi, cháu có vài tin thú vị!”

“Tin gì vậy?”

“Cháu vừa nhận một công việc trong trung tâm thương mại! Có tuyệt không ạ?”

“Cô không biết cháu đang tìm việc đấy,” mẹ tôi nói với vẻ bối rối.

“Vâng, cháu không nghĩ là cháu được nhận. Đó quả là một cơ hội tốt. Cháu sẽ làm ở khu bấm khuyên tai ạ.”

“Khi nào cháu bắt đầu làm?” mẹ hỏi.

“Cái này hơi khó xử ạ, họ muốn cháu làm từ chiều mai. Vậy nên cháu không thể trông Ellie được nữa. Đáng lẽ cháu nên báo với cô sớm hơn, nhưng mà…”

“Cô hiểu mà,” mẹ tôi nói, và tôi có thể nghe thấy cả sự miễn cưỡng trong giọng của mẹ.

Chị Nicole quay về phía tôi. “Quên không nói với em, chị có phiếu giảm giá! Tuyệt phải không nào? Hãy ghé qua mua sắm bất cứ lúc nào nhé.”

“Dạ, vâng ạ,” tôi nói.

“Cháu phải về rồi ạ,” chị ấy nói. “Chúc cả nhà ngủ ngon!”

“Chúc cháu ngủ ngon,” mẹ tôi nói vọng theo.

Tôi đứng ngoài thềm nhà cùng với mẹ và nhìn bóng chị ấy khuất trong bóng đêm.

“Chị ấy bỏ việc thật hả mẹ?” Tôi hỏi. Tôi đang hơi sốc.

Mẹ gật đầu. “Ngày hôm nay mới tuyệt làm sao!”

Tôi nhìn chằm chằm vào màn đêm để bắt lấy cái bóng cuối cùng của chị trông trẻ, nhưng thay vào đó, tôi nhìn thấy một người khác: một cậu nhóc với mái tóc dài. Cậu ta đang đứng dựa vào cây cọ già trước nhà tôi. Những chiếc lá màu nâu to bản rụng khắp mọi nơi, và mẹ nói đến lúc phải chặt nó đi rồi.

Cậu ta trông cân đối và dẻo dai, nom cỡ mười ba hoặc mười bốn tuổi. Con trai nhiều khi khó đoán lắm.

“Cô cần mang rác ra ngoài đi,” cậu nhóc gọi mẹ tôi. Ngày mai là ngày đổ rác và thùng rác của hàng xóm đã xếp thành hàng dài trên phố.

“Cậu làm ơn vào trong được không?” mẹ nói với cậu ta.

“Lần cuối cô bón phân cho thảm cỏ là khi nào vậy?” cậu ta hỏi. “Đầy cỏ dại kìa.”

“Muộn rồi đấy,” mẹ tôi nói, sốt ruột chờ ở cửa.

Tôi nghĩ liệu cậu ta có phải một học sinh của mẹ không. Thỉnh thoảng họ giúp mẹ xếp và dỡ đồ ra khỏi chiếc xe tải lớn cũ kỹ.

“Cô phải chăm chút cho ngôi nhà nếu muốn bảo toàn giá trị của nó,” Cậu ta nói.

“Cậu vào ngay đi!”

Cậu nhóc miễn cưỡng nhấc chiếc túi bằng vải thô và đi vào trong nhà.

Trông cậu ta không giống lũ nhóc trong đội kịch. Họ thường mặc quần bò và áo phông để dễ làm việc. Còn cậu nhóc này lại mặc một chiếc sơ mi kẻ sọc nhàu nhĩ cùng quần kaki, một chiếc áo khoác vải tuýt và đi đôi giày lười bằng da. Nhưng nổi nhất là đôi tất của cậu ta: một đôi tất dài màu đen. Bạn sẽ thấy là ít đứa con trai nào học cấp hai lại mặc những thứ này. Trông cậu ta như thể sắp đi tới lễ bar mitzvah (một buổi lễ trưởng thành của đạo Do Thái) vậy.

Cậu ta nhìn tôi chằm chằm với ánh mắt sắc lạnh.

“Cậu đạt học lực xuất sắc chứ hả?”

Tôi giật mình, nhưng vẫn trả lời.

“À, bọn tớ chưa được nhận được bảng điểm.”

Có cái gì đó ở cậu nhóc này rất quen thuộc. Mái tóc nâu sẫm, phần tóc bờm xờm và đuôi tóc nhuộm bạc. Cậu ta là một diễn viên trong vở diễn của mẹ chăng?

“Cậu là ai?” Tôi hỏi.

Cậu ta bơ tôi đi.

“Cậu phải cần điểm cao nếu muốn cạnh tranh trong chương trình Tiến sĩ.”

“Chương trình Tiến sĩ ư? Nó mới 11 tuổi mà!” Mẹ tôi nói.

“Bắt đầu không bao giờ là sớm cả. Nhân tiện thì,” cậu ta nói, nhìn thẳng vào bộ quần áo mẹ tôi đang mặc, “Đó là thứ cô mặc đi làm ấy hả?”

Mẹ thích lùng sục tủ đồ diễn ở trường. Sáng nay, mẹ rời khỏi nhà trong một chiếc chân váy đen bằng vải sa tanh dài chấm đất và phối một chiếc áo khoác lửng cùng áo sơ mi kiểu nhà thơ.

“Có lẽ cô nên cân nhắc mua một bộ vest công sở thật đẹp,” cậu ta gợi ý.

“Cậu vẫn lạc trong thời kỳ Đồ đá à, tôi hiểu mà,” mẹ tôi cãi lại.

Thế rồi, cậu ta quay về phía tôi, nhìn bộ pyjama gồm quần đùi và áo ba lỗ của tôi.

Cậu ta nói, “Sao cậu mặc pajama ngắn thế? Mấy bộ váy ngủ dài đâu rồi? Cậu cũng “mê trai” như mẹ cậu à?”

“Con gái bây giờ đều mặc thế cả,” mẹ trả lời hộ tôi. “Và tôi không mê trai!”

“Cô còn trốn đi theo trai cơ mà,” cậu ta nỏi.

“Tôi đã yêu,” mẹ nói qua hàm răng nghiến chặt.

“Một tấm bằng Tiến sĩ sẽ lâu bền hơn tình yêu,” cậu đáp. “Không quá muộn để học lại đâu. Cô vẫn có thể lấy được một tấm bằng thực sự.”

Cuộc đối thoại này kích thích trí nhớ của tôi. Kiểu như xem lại một bộ phim vậy. Tôi ngắm kỹ cậu nhóc – chân tóc bạc, cách cậu ta đứng thoải mái trong sảnh, cánh tay phải của cậu ra mở ra, nắm vào như đang cầm cái gì theo thói quen. Nhưng chính chiếc nhẫn vàng to đeo lỏng lẻo ở ngón tay giữa khiến tôi chú ý nhất. Đó là chiếc nhẫn của sinh viên, loại mà bạn có khi học đại học. Nó trông cũ kỹ với một viên đá đỏ ở giữa.

“Mình đã nhìn thấy chiếc nhẫn đó trước đây rồi,” Tôi nói, và nhớ ra người sở hữu chúng.

Tôi nhìn cậu nhóc.

“Ông ngoại?” Tôi thốt lên.

 

 

 

4.

Nhà ảo thuật

“Thế cháu đang tưởng là ai?” ông hỏi. “Ông tiên răng chắc?”

Ông trông giống cậu bé mười ba tuổi, nhưng khi tôi nhìn thật kỹ, tôi có thể thấy đặc điểm của ông. Đôi mắt xanh nước biển. Khuôn miệng với biểu cảm khó ưa. Đôi lông mày chạm nhau ở giữa.

“Đây là một loại phép thuật ạ?” Tôi hỏi.

Ông cong môi và nhìn mẹ tôi. “Con nuôi dạy cháu gái ta để nó tin vào phép thuật ư? Đây là kết quả của việc con chọn học kịch đấy.” Ông nói từ “kịch” nghe như thể nó là từ gì bậy bạ vậy.

“Bố nói gì cũng được.” mẹ đáp với giọng của một cô bé tuổi teen chán đời.

“Đây là khoa học, chỉ đơn giản thế thôi,” ông nói với tôi.

Nhưng tôi chẳng thấy nó đơn giản chút nào và chỉ biết lắc đầu.

Ông thở dài ngao ngán. “Điều này quá hiển nhiên rồi còn gì. Ta đã tìm ra cách đảo ngược quá trình lão hóa bằng tái tạo tế bào.”