Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Hồng Ân

Họ tên: Nguyễn Hồng Ân

Ngày tháng năm sinh: 14/07/1999

Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh

CẬU BẠN CÁ VÀNG THỨ 14

GOLDIE

Cái thuở còn học mẫu giáo, cô giáo của tôi – Starlily – thường ăn bận những chiếc váy tie-dye đầy kiểu cọ và hay mang vào lớp những cái bánh cookies làm từ bột yến mạch với hạt lanh. Tin tôi đi, chúng lúc nào cũng nhạt thếch, chả ngon lành gì.

Cô ấy hay ra rả bên tai rằng chúng tôi phải ngồi yên này, không quay tới quay lui trong giờ ăn nhẹ này, che khuỷu tay lại khi hắt hơi và không bao giờ được nhét Play-doh vào họng (điều mà bọn trẻ chúng tôi cứ hay nghĩ là tùy ý thích chúng nó). Một ngày nọ, Starlily cho mỗi người trong chúng tôi một con cá vàng để mang về nhà. Cô đã mua chúng từ một cửa hàng thú nuôi nào đó chỉ với 1 đô la cho mười con. Trước lúc ra về, cô ấy đã làm một bài thuyết giảng cho các vị phụ huynh về công dụng của chúng.

            “Lũ trẻ sẽ hiểu được vòng đời của cuộc sống.” Cô ấy giải thích, “Đám cá đó chẳng bao giờ sống được quá lâu đâu.”

            Tôi mang chú cá của tôi về nhà và hớn hở đăt tên cho chú là Goldie như cách mọi đứa trẻ trên thế giới làm để đánh dấu cho một chú cá chính hiệu. Và hóa ra, Goldie đích thực là chú cá chính hiệu.

            Bởi, Goldie đã không chết.

            Ngay cả khi mà tất cả lũ bạn cùng lớp của tôi đều trơ mắt dòm bọn cá lần lượt “chầu Trời”, Goldie cứ thế mà sống. Vẫn bơi lăn tăn khi tôi bắt đầu học mẫu giáo. Vẫn vẫy đuôi vui vẻ khi tôi vào lớp 1. Lớp 2, lớp 3 rồi lớp 4, cậu bạn đáng yêu ấy vẫn ở đó. Mãi cho đến khi tôi học lớp 5, một buổi sáng nọ khi tôi vào bếp, Goldie của tôi đã phơi thân bồng bềnh nổi trên bể cá.

            Mẹ tôi hết lời than vãn khi tôi kể điều ấy với bà.

            “Thôi nào, nó thường chả sống được bao lâu,” bà an ủi.

            “Mẹ đang nói gì thế?” Tôi hỏi “Bảy năm, nó sống được bảy năm đó mẹ ạ.”

            Mẹ tôi cười và bảo, “Ellie con yêu, đó không phải là Goldie ban đầu nữa rồi. Chú cá đầu tiên đã ra đi sau 2 tuần. Khi nó chết, mẹ đã mua một con khác bỏ vào. Con à, đã có rất nhiều Goldie trong suốt những năm qua.”

            “Đây là con thứ mấy rồi mẹ?”

            “Thứ 13, chú cá không may mắn thứ 13,” bà ấy nói trong gượng gạo.

            “Bọn chúng đều không may mắn,” tôi chỉ ra, thườn thượt nói.

            Chúng tôi đưa tiễn Goldie-thứ-13 bằng một đám tang trịnh trọng trong toilet và đánh tiếng với bà xem liệu nuôi một chú chó có khả thi hay không.

 

NHỮNG MẢNH GHÉP

            Căn nhà mà chúng tôi sống trông chả khác gì một cái hộp giày. Nó bao gồm 2 phòng ngủ và một nhà vệ sinh mà toilet lúc nào cũng bị tắc nghẽn. Tôi thầm nghĩ là cái toilet đó ắt đã bị ám bởi những chú cá vàng chúng tôi đã dội xuống.

            Sân sau nhà tôi nhỏ lắm – nó đơn thuần chỉ là một tấm bê tông be bé để vừa đủ một cái bàn và vài cái ghế. Đáng buồn thay, đó chính là lí do mà mẹ tôi không cho phép tôi nuôi một con chó. Bà cho là sẽ chẳng công bằng tí nào cho chú chó bởi chú cần có một cái sân thực sự để có thể chạy nhảy, vui chơi.  

            Chị trông trẻ của tôi – Nicole – bước vào bếp khi tôi đang đang xếp hình. Những mảnh ghép được bày bừa bãi trên cả cái bàn.

            “Em vĩnh viễn sẽ chẳng hoàn thành nổi chúng đâu, Ellie à,” cô ấy nói.  “Mà có bao nhiêu mảnh ghép cả thảy?”

            “Một ngàn ạ,” tôi trả lời.

            Đó là bức ảnh về thành phố New York – nơi những nẻo đường được bao phủ bởi những chiếc taxi màu vàng. Tôi cực kì yêu việc xếp hình. Tôi tận hưởng những khi mình cố gắng để tìm ra cách để mọi thứ được ghép khít khớp lại với nhau: Làm sao các đường cong có thể gặp nhau, làm sao có thể tạo nên góc độ hoàn hảo cho tác phẩm.

            “Một ngày nào đó, chị sẽ tỏa sáng trên sàn diễn Broadway,” chị nói với tôi.

            Nicole có mái tóc bươm bướm dài thướt tha và nó đáng lẽ nên được xuất hiện trong các quảng cáo dầu gội. Chị ấy đã diễn vai Juliet trong vở kịch “Romeo và Juliet” mà mẹ tôi làm đạo diễn tại trường trung học. Bà là giáo viên dạy kịch ở đó, trong khi ba tôi thì là một diễn viên. Họ đã ly hôn khi tôi còn tí tẹo, nhưng dù sao, họ vẫn là bạn.

            Hai người đó lúc nào cũng bảo ban tôi phải tìm kiếm niềm đam mê của bản thân. Nói cho đúng hơn, họ muốn tôi cũng yêu thích rạp hát giống như họ vậy. Nhưng tôi biết mình không thể. Đôi khi tôi nghĩ, không biết bản thân mình có sinh nhầm nhà hay không. Cảm giác đứng trên sân khấu luôn làm tôi thấy sợ hãi (tôi đã thấy quá nhiều diễn viên nói năng lộn xộn trên sân khấu), và tôi cũng chẳng phải là fan hâm mộ của việc quan sát nơi hậu trường (Tôi thường kết thúc bằng việc làm bốc hơi các bộ trang phục).

            “Ồ yeah. Mẹ em vừa mới gọi điện này. Bà ấy sẽ về muộn,” Nicole bảo. Suy nghĩ một lúc, chị nói thêm, “Có vài việc cần làm để đưa ông em về từ đồn cảnh sát.”

            Trong một giây, tôi tưởng rằng mình đã nghe lầm.

            “Gì cơ chứ?” Tôi hỏi. “Ông ấy có ổn không?”

            Chị khẽ nâng vai. “Mẹ em chẳng nói nữa. Nhưng mà, bà bảo chúng ta có thể gọi pizza đến.”

            Một giờ sau, bụng tôi phình ra bởi một đống pizza, nhưng tôi vẫn cứ lo lắng.

            “Mẹ em có nói tại sao ông em lại ở đồn cảnh sát không chị?” Tôi hỏi.

            Nicole tỏ vẻ hoang mang. “Không. Bộ ông em hay gặp rắc rối lắm hở?”

            Tôi lắc đầu. “Em không nghĩ thế. Ý em là, ông ấy đã già lắm rồi,” tôi trả lời.

            “Là bao nhiêu tuổi cơ?”

            Tôi chẳng chắc chắn mấy. Thật sự thì chưa bao giờ tôi nghĩ về việc đó cả. Lúc nào thì ông cũng nhìn rất “già” trong mắt tôi: nhiều nếp nhăn, tóc bạc và lúc nào cũng giữ khư khư một cậy gậy – hình ảnh của một người ông điển hình.

            Chúng tôi thường chỉ gặp ông 2 đến 3 lần một năm, thường là ở một nhà hàng Trung Hoa. Ông ấy lúc nào cũng gọi món moo goo gai pan và lén lấy cái gói nước sốt đậu nành mang về nhà. Tôi vẫn luôn tò mò tự hỏi liệu ông sẽ làm gì với chúng. Ông sống không xa nhà tôi lắm, cơ mà mối quan hệ giữa ông và mẹ lại chẳng mấy tốt lành. Ông ấy là một nhà khoa học và cho là việc trong nhà hát cũng không phải là nghề hay ho gì. Ông vẫn rất giận vì mẹ tôi đã không vào trường Harvard – nơi ông đã từng học.

            Tiếng của một chiếc xe báo động vang lên từ xa.

            “Có khi nào ông của em bị tai nạn xe không?” Nicole phỏng đoán. “Chị chẳng hiểu tại sao những đứa trẻ vị thành niên hay thường bị buộc tội, trong khi người già mới chính là những kẻ lái xe siêu tệ.”

            “Ông em đã không lái xe từ lâu lắm rồi.”

            “Có khi ông đi lang thang đâu đó.” Nicole tự gõ đầu mình. “Hàng xóm của chị bị bệnh Alzheimer. Bác ấy cứ lẻn ra ngoài mọi lúc có thể. Cảnh sát lúc nào cũng phải đưa bác về nhà.”

            Điều đó nghe như thể chị ấy đang miêu tả một chú chó.

            “Đó thật là buồn,” tôi nói.

            Nicole khẽ gật đầu. “Là rất rất rất buồn. Lần cuối cùng bác ấy ra ngoài, bác đã bị đâm bởi một chiếc xe hơi. Thật điên rồ, phải không?”

            Tôi nhìn chằm chằm chị ấy, miệng há hốc cả ra.

            “Nhưng chị tin rằng ông em sẽ không sao đâu,” chị bảo.

            Sau đó, chị hất tóc và cười. “Nè! Em có muốn mình cùng làm một ít bỏng ngô và coi phim không?”

CHIẾC NHẪN

            Từng luồng khí ấm áp ồ ạt tràn vào khung cửa sổ nhà tôi. Chúng tôi sống tại Vịnh Area, trong bóng tối của San Francisco, nơi mà những đêm cuối tháng Chín thường rất là mát dịu. Nhưng tối nay trời lại nóng đến khó tả, có lẽ, mùa hè vẫn chưa sẵn sàng để rời đi.

            Tôi đã từng rất yêu cách bài trí căn phòng của mình, nhưng gần đây thì cảm giác ấy cứ mơ hồ dần. Những bức tường được phủ đầy bởi các dấu vân tay của tôi và Brianna – bạn thân của tôi. Chúng tôi bắt đầu làm việc này khi tôi vào lớp 1 và cứ mỗi năm trôi qua, chúng tôi lại in thêm nhiều dấu vân tay mới. Bạn có thể thấy được những dấu vân tay của tôi càng ngày càng to hơn, tựa như chính viên nang thời gian của cuộc đời tôi vậy.

            Nhưng mà chúng tôi đã chẳng làm điều đó trong năm học này, hay cả trong mùa hè, bởi Brianna đã tìm thấy niềm đam mê của cô ấy: bóng chuyền. Giờ đây, cô ấy luôn xoay mòng mòng với trạm y tế, việc tập luyện cũng như các giải đấu cuối tuần. Sự thật thì, tôi không rõ liệu Brianna có còn là bạn thân của mình hay không.

            Lúc đó đã là khá muộn khi tôi nghe được tiếng cửa gara nghiến mở. Tôi nghe giọng nói của mẹ cùng chị Nicole đang trò chuyện ở sảnh trước, và tôi từ từ đi tới.

            “Cô cảm ơn vì cháu đã ở lại,” mẹ tôi nói với chị.

            Mẹ tôi có vẻ đã bị vắt kiệt sức lực. Mascara của bà nhòe cả hai bên mắt, màu son môi đỏ thắm cũng đã phai đi. Màu tóc tự nhiên của mẹ tôi cũng là màu vàng sậm như tôi, cơ mà bà đã nhuộm nó. Giờ thì nó là màu tím.

            “Không sao đâu ạ,” Nicole đáp lại. “Bố của cô vẫn ổn chứ?”

            Một biểu cảm khó hiểu lướt quá trên khuôn mặt mẹ tôi. “Ồ, ông ấy không sao. Rất cảm ơn cháu đã hỏi. Cháu có cần cô đưa về không?”

            “Cháu có thể tự lo liệu mà!” Nicole nói. “À mà cô Lissa, cháu có một tin thú vị muốn thông báo.”

            “Đó là…”

            “Cháu đã xin được việc tại trung tâm mua sắm rồi ạ! Điều đó là quá tuyệt phải không cô?”

            “Cô không hề biết là cháu mong nó đấy,” mẹ tôi nói trong bối rối.

            “Cháu cũng chả nghĩ là cháu được nhận đâu. Dù gì thì đây cũng là một cơ hội lớn. Ở nơi xỏ lỗ tai của trung tâm mua sắm đấy ạ.”

            “Vậy khi nào thì cháu bắt đầu?” Mẹ tôi hỏi.

            “Điều này, à, hơi khó nói một chút. Họ muốn cháu bắt đầu làm ngay từ ngày mai, nên cháu sẽ không thể tiếp tục chăm Ellie được. Lẽ ra cháu nên để ý và báo với cô sớm hơn…”

            “Cô hiểu mà,” mẹ tôi nói, tôi nghe rõ mồn một ngữ điệu căng thẳng trong từng câu chữ của bà.

            Nicole quay lại nhìn tôi. “Chị suýt quên mất. Chị có cả thẻ giảm giá đó! Quá tuyệt phải không? Hãy đến và mua sắm bất cứ lúc nào em muốn nha.”

            “Vâng ạ,” tôi đáp lại. 

            “Chị nên về thôi,” chị ấy nói, “Chúc hai người ngủ ngon.”

            “Chúc cháu ngủ ngon,” giọng mẹ tôi vọng theo.

            “Chị ấy vừa nghỉ việc hả mẹ?” Tôi hỏi, có chút sốc.

            Mẹ tôi gật đầu. “Đây ắt hẳn phải là một ngày đáng nhớ.”

            Tôi nhìn chăm chú vào màn đêm để kiếm tìm bóng hình thấp thoáng của chị giữ trẻ thân thương, nhưng tình cờ thay, tôi lại trông thấy một người khác: một thằng nhóc tóc dài. Cậu ta đang đứng dưới cái bóng của một cây cọ già nua và úa tàn. Những chiếc lá nâu lớn rơi vương vãi khắp nơi và mẹ tôi thường bảo, chúng cần được rơi xuống.

            Cậu ta trông khá mảnh mai với mái tóc xơ cứng. Là mười ba, hay mười bốn tuổi nhỉ? Có đôi lúc, thật khó để có thể nói về điều này với lũ con trai.

            “Cô cần phải đem rác ra ngoài,” cậu ta gọi mẹ tôi. “Ngày mai là ngày đổ rác và rác của các hàng xóm xung quanh đã xếp thành hàng rồi.”

            “Có muốn vào trong không?” Mẹ tôi hỏi cậu ta.

            “Lần cuối cô chăm sóc bãi cỏ này là lúc nào vậy?” cậu hỏi. “Cỏ dại đã mọc đầy cả ra rồi.”

            “Giờ là quá muộn rồi đó,” mẹ tội bực dọc nói, giữ cánh cửa mở ra một cách thiếu kiên nhẫn.

            Tôi đoán đó có thể là một học trò của mẹ tôi hay chăng. Thỉnh thoảng bọn họ sẽ tới giúp mẹ tôi chất đồ lên chiếc xe tải chở hàng to và nghiêng ngả.

            “Cô cần phải học cách giữ gìn nhà cửa nếu cô thật sự muốn nó bảo tồn giá trị.” Cậu ta nói.

            “Đi vào mau.”

            Cậu ta nhặt chiếc túi vải thô lên và bước vào nhà trong miễn cưỡng.

            Thật ra thì cậu ta trông chả có gì giống với học viên của nhà hát. Họ thường sẽ mặc quần jeans cùng với áo phông – những thứ đồ tiện lợi để diễn tập hay làm việc. Đứa trẻ này thì lại bận một chiếc áo sơ mi sọc đã nhàu nhĩ, quần kaki bằng vải sợi tổng hợp, chiếc áo khoác vải tuýt với những vết vá lỗi trên khuỷu tay cùng với đôi giày lười bằng da. Nhưng đáng chú ý nhất chính là đôi vớ: đó là một đôi vớ váy dài màu đen. Bạn thường không gặp được nhiều nam sinh trung học ăn bận kiểu này. Nhìn cậu ta cứ như đang trên đường tới dự lễ trưởng thành tuổi 13 của người Do thái vậy.

            Cậu ta cứ chằm chằm nhìn tôi với ánh mắt đầy soi mói.

            “Này, nhóc có nhận được bằng danh dự chưa?”

            Tôi hơi giật mình, nhưng vẫn trả lời.

            “Có rồi, nhưng chúng tôi vẫn chưa nhận được phiếu thành tích học tập.”

            Con người này có một dáng dấp gì đó vô cùng quen thuộc. Mái tóc nâu tối, hai bên thì bù xù, phía dưới lại nhuộm xám. Là một diễn viên trong các vở kịch của mẹ tôi ư?

            “Cậu là ai vậy?” Tôi hỏi.

            Và tôi bị phớt lờ.

            “Nhóc cần có điểm số cao, nếu muốn thi vào chương trình đào tạo Tiến sĩ.”

            “Tiến sĩ gì cơ chứ? Nó chỉ mới có mười một tuổi thôi!” – mẹ tôi nói.

            “Vậy thì thôi. Dù gì bắt đầu quá sớm cũng chả tốt. Nói về chuyện này,” cậu ta chuyển mắt lên trang phục của mẹ tôi, “cô mặc như thế này đi làm đó ư?”

            Mẹ tôi trước đến nay vẫn thích lục tủ quần áo ở nhà hát. Sáng hôm nay, bà rời nhà với chiếc váy satin dài chạm đất phối cùng áo khoác bolero và áo thụng trắng.

            “Một bộ Âu phục mới đàng hoàng và tử tế, cô nên cân nhắc đi,” cậu ta đề nghị.

            “Nhìn tôi như bà mụ thời Đồ đá chứ gì, rõ lắm rồi,” mẹ tôi nhanh chóng đập lại.

            Cậu ta quay sang nhìn tôi, soi mói kĩ càng chiếc áo tank-top và cái quần ngắn mà tôi vẫn hay mặc đi ngủ.

            Cậu ta nói: “Những bộ đồ ngủ của nhóc sao lại ngắn thế này? Mấy cái áo, váy dài gì đó đâu hết rồi? Bộ nhóc cũng bị lũ con trai bỏ bùa mê thuốc lú như mẹ nhóc ấy à?”

            “Ở tuổi của nó thì đứa con gái nào cũng mặc đồ như thế. Và, tôi cũng không phải đứa hám trai như thế.”

            “Thế mà lại bỏ trốn để chạy theo lũ đàn ông đấy!”

            “Người ta gọi đó là TÌNH YÊU.” Mẹ tôi nghiến răng ken két.

            “Vẫn là tấm bằng tiến sĩ tồn tại lâu hơn và có ích hơn thứ tình yêu đó nhỉ,” cậu ta mỉa mai, “Giờ vẫn chưa quá muộn để quay lại trường học đâu. Cô vẫn đủ thời gian để kiếm cho mình tấm bằng đấy.”

            Dường như có một điều gì đó đã đánh thật mạnh vào tâm trí tôi, đưa tôi ngược về dòng hồi ức, khiến tôi như được quan sát một bộ phim cũ nào đó vô cùng thân quen. Tôi quan sát cậu ta kĩ lưỡng hơn, mớ tóc xám xịt kia, cái dáng đứng thoải mái giữa nhà, cái cách cậu ta cứ nắm lại, rồi lại mở tay ra như thể nó thường dùng để nắm lấy vật gì đó. Nhưng chính chiếc nhẫn vàng, chiếc nhẫn nặng trịch trên ngón tay giữa của cậu ta, đã hoàn toàn làm tôi sửng sốt. Đó là một chiếc nhẫn kỉ niệm của trường học, cái loại mà người ta vẫn hay đeo khi vào trường đại học. Nó trông đã rất cũ kĩ, với một viên ngọc màu đỏ được đính ở ngay trung tâm.

            “Con đã từng thấy chiếc nhẫn này rồi,” tôi la lên, và cố hết sức lục lại trí nhớ xem mình đã thấy nó ở trên tay ai. Tôi sượng trân nhìn cậu ta:

            “Ông ngoại?” Tôi thốt lên.

NHÀ PHÉP THUẬT

            “Chứ ai vào đây nữa?” cậu ta hỏi. “Bà tiên răng hở?”

            Nhìn qua thì cậu ta chả khác gì đứa trẻ 13 tuổi bình thường, nhưng khi nhìn kỹ hơn, không khó để tôi nhìn ra những dấu vết của ông ngoại. Đôi mắt ướt màu biếc. Cái biểu cảm quái gở thường trực trên miệng. Cách mà hai hàng mi chau lại nơi chính giữa.

            “Là ma thuật gì ư?” tôi không kìm được mà hỏi.

            Ông bĩu môi, liến thoắng mẹ tôi. “Thế ra cô dạy cháu tôi tin vào ba thứ phép màu nhảm nhí gì đó à? Cũng phải nhỉ, người làm “nghệ thuật” mà, lúc nào chả thế.” Ông phun hai từ “nghệ thuật” như đang nói về thứ gì đó tệ hại lắm.

            “Sao cũng được, thưa bố,” mẹ tôi chán chường đáp lại, giọng điệu chả khác nào một cô thiếu nữ nản đời. “Nghe nè, đây là khoa học, rõ ràng và đơn giản.” Ông nói với tôi.

            Cơ mà tôi chả thấy nó dễ hiểu tí nào, nên tôi cứ thế mà lắc đầu nguầy nguậy.

            Ông bực mình thở dài. “Ta tưởng ta đã nói rõ ràng rồi chứ. Ta đã chế tạo ra được cách để đảo ngược quá trình lão hóa thông qua việc tái tạo mô tế bào.”