Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Minh Thu

Người dự thi: Họ và tên: Nguyễn Minh Thu
Ngày sinh: 1993 
Trường: Đại học Đại Nam

Goldie

Khi còn học lớp dự bị, tôi có một giáo viên tên là Starlily. Cô ấy mặc một chiếc váy nhuộm màu bảy sắc cầu vồng và luôn mang theo bánh quy được làm từ ngũ cốc ăn sáng cùng hạt lanh mà chẳng có mùi vị gì hết.
Cô Starlily dạy chúng tôi phải ngồi yên trong lúc ăn quà vặt, hắt hơi vào khuỷu tay, và không ăn đồ chơi đất nặn Play-Doh (thứ mà có vẻ hầu hết trẻ con nghĩ là tùy ý). Rồi một ngày, cô gửi về nhà tất cả chúng tôi một con cá vàng. Cô mua mười con với giá một đô la ở cửa hàng thú cưng. Cô ấy đã giảng giải cho cha mẹ chúng tôi một bài học trước khi tiễn chúng tôi về.
“Những chú cá vàng sẽ dạy cho con của các anh chị về vòng đời.” Cô giải thích, “cá vàng không sống được lâu mà.”
Tôi đã mang chú cá về, đặt tên là Goldie như mọi đứa trẻ khác trên thế giới này từng nghĩ rằng chú cá của chúng sẽ trở nên khác biệt. Nhưng hóa ra Goldie thuộc loại khác biệt thật. 
Bởi vì Goldie không chết.
Thậm chí sau khi tất cả những chú cá vàng của các bạn cùng lớp đã bơi về bể cá khổng lồ trên bầu trời, Goldie vẫn sống. Vẫn sống khi tôi bắt đầu học mẫu giáo. Vẫn sống khi tôi bước vào lớp một. Vẫn còn sống đến lớp hai rồi lớp ba rồi lớp bốn. Cuối cùng, vào một buổi sáng năm lớp năm cuối cấp, tôi bước vào nhà bếp và nhìn thấy chú cá của tôi ngửa bụng, nổi trong cái bát.
Mẹ tôi rên rỉ khi tôi nói với mẹ. “Nó không sống được lâu mà,” mẹ nói. 
“Mẹ đang nói gì vậy?” tôi hỏi. “Nó đã sống được bảy năm rồi đấy!”
Mẹ tặng cho tôi một nụ cười và nói, “Ellie, Goldie không khác gì những con cá vàng khác đâu con. Nó chỉ sống được 2 tuần. Và khi Goldie chết, mẹ đã mua một con khác thả vào trong bát rồi. Đã có rất nhiều chú cá trong những năm qua.”
“Chú cá này là thứ mấy rồi ạ?”
“Thật không may đây là con thứ mười ba rồi,” mẹ nói với vẻ chế giễu. 
“Tất cả chúng đều không may mắn,” tôi chỉ ra.
Chúng tôi đã an táng Goldie Thứ Mười Ba ở bệ xí và tôi hỏi mẹ liệu chúng tôi có thể nuôi một chú cún được không.

2

Mảnh ghép

Chúng tôi sống trong một ngôi nhà trông giống như một chiếc hộp đựng giày. Nó có hai phòng ngủ và một phòng tắm mà có cái bệ xí luôn bị tắc. Tôi thầm nghĩ rằng nó đã bị ám bởi tất cả những chú cá từng bị dội nước thẳng xuống đấy.
Sân sau của chúng tôi nhỏ xíu – chỉ là một tấm bê tông vừa đủ cho một cái bàn và vài chiếc ghế. Đó là lý do mẹ tôi sẽ không để tôi nuôi một chú cún. Mẹ nói rằng thực sự không hợp lý chút nào, khi mà một chú chó cần một cái sân xứng đáng để có thể chạy nhảy xung quanh.
Chị trông trẻ tên Nicole bước vào phòng, nơi mà tôi đang để những miếng ghép hình với nhau. Chúng gần như chiếm gần hết cái bàn của chúng tôi.
“Em định làm việc này cả đời à,” chị ấy nói. “Có bao nhiêu mảnh ghép ở đây vậy?”
“Một nghìn ạ,” tôi đáp.
Đó là một bức tranh về Thành phố New York – một cảnh đường phố với những chiếc taxi màu vàng. Tôi yêu những mảnh ghép. Tôi thích việc cố gắng tìm ra cách để mọi thứ khớp vào nhau. Làm thế nào để một đường cong phù hợp với một đường cong và thành một mảnh ghép hoàn hảo.
“Một ngày nào đó chị sẽ ở trên sân khấu Broadway,” chị ấy nói với tôi.
Nicole có một mái tóc dài mềm mại óng ả như trong quảng cáo dầu gội đầu. Chị ấy đóng vai Juliet trong vở kịch về Romeo và Juliet ở trường trung học địa phương mà mẹ tôi làm đạo diễn. Mẹ tôi là giáo viên kịch ở trường trung học còn cha tôi là một diễn viên. Họ đã chia tay từ khi tôi còn nhỏ, nhưng họ vẫn là bạn.
Cha mẹ luôn nói với tôi rằng tôi cần phải tìm ra niềm đam mê của bản thân. Cụ thể, họ muốn tôi có niềm đam mê với sân khấu. Nhưng tôi thì không. Đôi khi tôi tự hỏi rằng có phải mình đã sinh vào nhầm gia đình hay không. Việc đứng trên sân khấu khiến tôi hoảng sợ (tôi đã chứng kiến quá nhiều diễn viên bị nhầm lẫn lời thoại của mình), và tôi cũng không phải là một người ngưỡng mộ với công việc sau cánh gà (tôi luôn khiến những bộ trang phục bốc hơi).
“Ôi, vâng. Mẹ của em gọi này. Bà ấy sẽ về muộn,” Nicole nói. Như nghĩ ra điều gì, chị ấy bổ sung, “Cần phải làm gì đó để ông ngoại em ra khỏi sở cảnh sát.”
Một thoáng, tôi cứ nghĩ là mình nghe nhầm. “Sao ạ?” tôi hỏi. “Ông không sao chứ ạ?”
Chị ấy nhún vai. “Mẹ em không nói. Nhưng bà ấy bảo chúng ta có thể gọi một chiếc pizza đó.” 
Một giờ sau, bụng của tôi đã no căng vì pizza, nhưng tôi vẫn thấy rối ren.
“Mẹ em có nói bất cứ điều gì về lý do ông em ở sở cảnh sát không chị?” Tôi hỏi. 
Nicole trông rất hoang mang. “Không có. Ông vướng vào khá nhiều rắc rối chăng?”
Tôi lắc đầu. “Em không nghĩ thế. Ý em là, ông già rồi,” tôi nói.
“Ông bao nhiêu tuổi vậy?”
Tôi không chắc lắm. Thậm chí, tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều này. Với tôi thì trông ông lúc nào cũng “già” thôi: nhăn nheo, tóc bạc, tay chống gậy. Kiểu ông bà tiêu chuẩn của bạn ý.
Chúng tôi chỉ gặp ông khoảng hai hay ba lần mỗi năm, thường là tại một nhà hàng Trung Quốc. Ông luôn gọi món gà thái lát xào nấm và chôm vài gói nước sốt đậu nành mang về nhà. Tôi thường tự hỏi ông làm gì với chúng nhỉ. Ông sống gần nhà chúng tôi, nhưng ông và mẹ không hòa thuận với nhau lắm. Ông là một nhà khoa học và thường bảo rằng biên kịch không phải là một công việc chân chính. Ông vẫn còn giận về việc mẹ đã không vào trường Harvard như ông.
Một tiếng còi xe vang lên ở phía xa.
“Có lẽ ông vướng vào một vụ tai nạn xe hơi chăng?” Nicole đưa ra giả thuyết. “Chị không biết tại sao vị thành niên lại bị kết tội gây nguy hiểm nữa, bởi chính những người già mới là những người lái xe gây nguy hiểm hơn ấy.”
“Ông không hay lái xe đâu ạ.”
“Có thể là ông đi lang thang.” Nicole vò đầu. “Người hàng xóm của chị mắc bệnh Alzheimer. Bà ấy ra ngoài mọi lúc. Cảnh sát lúc nào cũng phải đưa bà ấy về nhà đấy.”
Nghe kiểu như chị ấy đang mô tả một chú cún vậy.
“Buồn thật,” tôi nói.
Nicole gật đầu. “Đúng là buồn thật. Vào lần chạy trốn cuối cùng, bà ấy đã đâm trúng một chiếc xe hơi! Sao lại điên rồ thế chứ?”
Tôi há hốc miệng nhìn chị ấy chằm chằm.
“Nhưng chị chắc chắn là ông của em không sao đâu,” chị nói.
Rồi chị ấy hất tóc ra sau và nở nụ cười. “Này! Muốn ăn bỏng ngô và xem phim không?”

3. Chiếc nhẫn

Không khí ấm áp tràn vào cửa sổ phòng tôi. Chúng tôi sống ở vùng vịnh, trong sự che chở của San Francisco, vào những đêm cuối tháng Chín có thể mát mẻ hơn. Nhưng đêm nay nóng thật, như thể mùa hè đang cự tuyệt việc phải rời khỏi đây vậy.
Tôi từng ưa thích cách trang trí phòng ngủ của mình biết bao, mà gần đây tôi lại không chắc lắm. Các bức tường phủ đầy những dấu tay màu sắc của tôi và người bạn thân nhất, Brianna. Chúng tôi bắt đầu tạo ra chúng khi bước vào lớp một và thêm nhiều dấu tay nữa vào mỗi năm. Bạn có thể thấy dấu tay nhỏ bé của tôi lớn dần lên, như chiếc hộp thời gian của cuộc đời tôi vậy.
Nhưng chúng tôi không còn tạo thêm bất kỳ dấu tay nào nữa trong năm học này, hoặc thậm chí là cả mùa hè nữa, bởi Brianna đã tìm thấy niềm đam mê của mình: bóng chuyền. Giờ đây cậu ấy bận bịu suốt với các phòng khám, việc tập luyện và các giải đấu cuối tuần. Thực lòng thì, tôi thậm chí còn không chắc liệu cậu ấy có còn là bạn thân nhất của tôi nữa hay không.
Cuối cùng khi cánh cửa nhà để xe cũng ken két mở ra thì đã rất muộn rồi. Tôi nghe thấy mẹ nói chuyện với chị Nicole ở sảnh trước, và tôi bước tới chỗ họ.
“Cảm ơn vì đã ở lại,” mẹ nói với Nicole.
Mẹ tôi trông mệt mỏi rã rời. Mascara của mẹ bị lem dưới mắt, màu son đỏ trên môi bị phai đi. Màu tóc tự nhiên của mẹ là màu vàng tối như của tôi, nhưng mẹ đổi màu nó rồi. Hiện giờ, nó màu tím.
“Không sao đâu,” Nicole đáp. “Cha của cô ổn chứ ạ?”
Một biểu cảm khó hiểu lướt qua mặt mẹ. “Ồ, ông ấy ổn. Cảm ơn sự quan tâm của em. Em có cần cô đưa về nhà không?” 
“Em ổn mà!” chị Nicole nói. “Nhân đây, cô Lissa à, em có vài tin vui!”
“Ừ?”
“Em kiếm được một công việc ở trung tâm mua sắm đấy! Thật tuyệt vời phải không?”
“Cô không biết là em đang tìm việc,” mẹ tôi bối rối.
“Vâng, em từng nghĩ rằng mình không muốn nhận công việc này. Đây đúng là một cơ hội lớn. Khu bấm khuyên tai ở trung tâm mua sắm đó cô!”
“Khi nào thì em bắt đầu đi làm?” mẹ tôi hỏi.
“Em cũng đang khó nghĩ lắm. Họ muốn em bắt đầu ngay chiều mai. Nên là em không thể trông Ellie nhiều hơn được nữa. Em hoàn toàn đã có thể báo thêm cho cô, nhưng…”
“Cô hiểu,” mẹ nói, và tôi có thể nhận thấy sự căng thẳng trong giọng nói của mẹ.
Nicole quay sang tôi. “Chị quên không nói với em. Chị được giảm giá đấy! Thật tuyệt phải không? Thế nên cứ đi qua mua sắm bất cứ lúc nào nhé.”
“Vâng, được ạ,” tôi đáp.
“Tốt hơn là em nên về thôi,” chị ấy nói. “Chúc ngủ ngon!”
“Chúc ngủ ngon,” mẹ tôi nói vọng theo.
Tôi đứng ở cửa ra vào cùng mẹ và nhìn chị bước vào màn đêm. “Chị ấy vừa bỏ đi phải không mẹ?”. Tôi hơi sốc một chút.
Mẹ gật đầu. “Đây đúng là một ngày đáng nhớ.”
Tôi nhìn chăm chú vào màn đêm để bắt gặp một ánh nhìn thoáng qua của chị trông trẻ, nhưng lại thấy một người khác: một cậu bé với mái tóc dài. Cậu ấy đứng dưới một cây cọ già nua đang hấp hối trên bãi ở phía trước nhà tôi. Những chiếc lá màu nâu to lớn của nó rơi xuống khắp nơi, và mẹ tôi bảo rằng nó cần phải bị đốn hạ thôi.
Cậu bé trông khá mảnh mai và dẻo dai. Cậu ấy khoảng tầm mười ba tuổi, có lẽ là mười bốn? Đôi khi thật khó mà nói được điều này ở con trai.
“Cô cần bỏ rác ra ngoài này đi,” cậu ấy yêu cầu. Mai là ngày dọn rác và sọt rác của mấy nhà hàng xóm xếp hàng dài trên đường phố.
“Cậu làm ơn vào trong đã được không?” mẹ tôi nói với cậu ấy.
“Mà lần cuối cùng cô làm cỏ là khi nào vậy?” cậu ấy hỏi. “Đây là cỏ hòa thảo.”
“Muộn rồi đấy,” mẹ sốt ruột giữ cửa mở.
Tôi tự hỏi, liệu cậu ấy có phải là một trong những học sinh của mẹ tôi không. Đôi khi họ giúp mẹ dịch chuyển hàng từ chiếc xe tải to lớn, méo mó của mẹ.
“Cô phải bảo quản ngôi nhà của mình đi nếu cô muốn giữ giá trị của nó,” cậu ấy nói. 
“Ngay đi!”
Cậu bé miễn cưỡng cầm chiếc túi du lịch lớn lên và bước vào nhà chúng tôi.
Cậu ấy trông không giống như những đứa trẻ điển hình của đoàn kịch. Họ thường mặc quần jean và áo thun, những quần áo đó khá thoải mái khi làm việc. Cậu ấy mặc một chiếc áo sơ mi kẻ sọc nhàu nhĩ, quần kaki, áo khoác vải tuýt với miếng vá trên hai khuỷu tay, và đôi giày da lười. Nhưng đôi vớ của cậu ấy nổi bật nhất: là vớ màu đen. Bạn không thể thấy các cậu bé ở trường trung học hay mang nó. Tựa như cậu ấy đang trên đường đến lễ trưởng thành của người Do Thái ấy.
Cậu ấy nhìn chằm chằm như muốn xuyên thấu tôi. “Bạn có trong danh sách những học sinh ưu tú không?”
Tôi giật mình, nhưng vẫn cứ trả lời.
“Uh, chúng mình chưa nhận được bảng thành tích học tập.”
Dường như ở cậu bé này có điều gì đó quen thuộc. Tóc của cậu ấy màu nâu sẫm, bên trên bờm xờm, và phần đuôi được nhuộm xám. Biết đâu lại là một diễn viên từ một trong những buổi biểu diễn của mẹ?
“Cậu là ai?” tôi hỏi cậu ấy. 
Cậu ấy phớt lờ tôi.
“Bạn cần phải đạt điểm giỏi nếu bạn định tham gia vào cuộc thi chương trình tiến sĩ.”
“Chương trình tiến sĩ? Con bé mới có mười một tuổi thôi!” mẹ nói.
“Bạn không thể bắt đầu quá sớm được. Nói đến chuyện đó,” cậu ấy chĩa thẳng vào trang phục của mẹ tôi. “đó là cái cô mặc đi làm sao?” 
Mẹ tôi thích đột kích kho trang phục bí mật của đoàn kịch ở trường. Sáng nay, mẹ rời khỏi nhà trong chiếc váy sa tanh đen dài chấm đất, kết hợp cùng áo khoác bô lê rô với áo sơ mi trắng xếp nếp dành cho nhà thơ.
“Có lẽ cô nên cân nhắc việc mua một bộ vét tử tế đi,” cậu ấy đề nghị. 
“Tôi thấy là cậu vẫn còn mắc kẹt trong thời kỳ đồ đá đấy,” mẹ vụt quay lưng đi.
Rồi cậu ấy quay qua liếc nhìn vào bộ đồ ngủ mùa hè của tôi.
Cậu ấy hỏi, “Sao bộ đồ ngủ của bạn lại ngắn cũn cỡn thế này? Chuyện gì đã xảy ra với bộ đồ ngủ dài rồi? Bạn cũng trở thành thiếu niên ngu xuẩn như mẹ mình sao?”
“Tất cả các cô gái ở tuổi của nó đều mặc như thế cả,” mẹ tôi trả lời thay. “Và tôi không phải là thiếu niên ngu xuẩn nhé!”
“Cô hẳn phải là một thiếu niên điên khùng khi bỏ trốn,” cậu ta nói lại.
“Khi ấy tôi đang yêu,” mẹ rít qua kẽ răng.
“So với tình yêu, bằng Tiến sĩ tồn tại lâu hơn rất nhiều đấy,” cậu ta đáp trả. “Không phải là quá muộn để quay trở lại trường học đâu. Cô vẫn có thể nhận được bằng cấp thực sự.”
Có điều gì đó về toàn bộ cuộc trao đổi này kích thích trí nhớ của tôi. Y chang như đang coi lại một bộ phim tôi đã từng xem. Tôi nghiên cứu cậu ta – mái tóc nghiêng màu xám, cách cậu ấy đứng vô cùng thoải mái trong phòng của chúng tôi, cách mà bàn tay phải mở ra và đóng lại như thể thường nắm chặt thứ gì đó theo thói quen. Nhưng là chiếc nhẫn vàng nặng đeo lỏng lẻo trên ngón tay giữa đã lôi cuốn tôi. Đó là một chiếc nhẫn của trường, giống như loại mà bạn nhận được ở trường đại học ấy, nó trông khá cũ và có một viên ngọc màu đỏ ở trung tâm.
“Mình đã nhìn thấy chiếc nhẫn này trước đây rồi,” tôi nói, và rồi tôi nhớ ra bàn tay của người mà tôi đã từng thấy chiếc nhẫn đó. Tôi nhìn vào cậu bé.
“Ông ngoại ư?” Tôi thốt lên.

4

Pháp sư

“Cháu đang mong đợi ai nữa hả?” ông hỏi. “Nàng tiên răng à?”
Dường như ông trông giống một cậu bé mười ba tuổi, nhưng khi nhìn thật kỹ tôi có thể thấy được những dấu vết của ông ngoại. Đôi mắt xanh nước biển. Các biểu hiện kỳ cục của miệng ông. Cách mà đôi lông càu cau lại.
“Đây có phải là một loại phép thuật không ạ?” 
Cậu bé cong môi và nhìn mẹ tôi. “Con đang kích động cháu gái của ta tin vào phép thuật đấy à? Đây là những gì xảy ra khi con theo ngành sân khấu đấy.” Ông nói từ “sân khấu” như là một từ tồi tệ vậy.
“Sao cũng được, thưa cha,” mẹ nói, nghe giống như giọng một thiếu niên ủ rũ. 
“Đây là khoa học, đơn giản và dễ hiểu,” ông nói với tôi.
Nhưng tôi không thấy bất cứ thứ gì dễ hiểu về chuyện này cả nên tôi chỉ lắc đầu.
Ông thở dài đầy bực tức. “Lẽ ra phải rất rõ ràng. Ta chỉ ứng dụng con đường đảo ngược quá trình lão hóa để phục hồi tế bào thôi.”