Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Phương Anh

Bài dự thi “Thử tài dịch sách”
Họ và tên: Nguyễn Phương Anh
Ngày sinh:1994
Trường: Đại học Văn hóa Hà Nội - Lớp: Viết báo 2
.......................................................................

1. Goldie
Khi còn học mẫu giáo, tôi có một cô giáo tên là Starlily. Cô hay mặc chiếc váy nhuộm những dải màu cầu vồng và luôn mang theo những chiếc bánh làm từ ngũ cốc và hạt lanh chẳng có hương vị gì.
Starlily dạy chúng tôi phải ngồi yên vào giờ ăn nhẹ, hắt xì vào cùi chỏ, và không ăn đất nặn Play- Doh (điều phần lớn bọn trẻ đều tưởng là không bắt buộc). Thế rồi một ngày, cô cho tất cả chúng tôi mỗi đứa mang về nhà một con cá vàng. Cô đã mua chúng với giá 1 đô la mười con tại một cửa hàng vật nuôi. Trước khi tiễn chúng tôi về, cô thuyết giảng một hồi với bố mẹ mỗi đứa.
“Cá vàng này sẽ dạy cho cho bọn trẻ hiểu về vòng đời.” Cô giải thích: “Cá vàng không sống được lâu.”
Tôi mang con cá vàng của mình về nhà và đặt tên cho nó là Goldie giống như mọi đứa trẻ khác trên thế giới này khi nghĩ chúng đặc biệt. Nhưng hóa ra Goldie của tôi đúng là đặc biệt thật.
Bởi vì Goldie không chết.
Kể cả khi cá của tất cả mấy đứa trong lớp tôi đều đã bay về bể cá thiên đường, Goldie vẫn còn sống. Vẫn còn sống cho tới khi tôi bắt đầu lên mẫu giáo lớn . Vẫn còn sống khi tôi vào lớp Một. Vẫn còn sống khi tôi lên lớp Hai rồi lớp Ba lớp Bốn. Cuối cùng, vào lớp Năm năm ngoái, một buổi sáng tôi vào bếp thì đã thấy cá của mình lật ngửa lềnh bềnh trong bát.
Mẹ tôi cằn nhằn khi tôi báo với bà.
“Nó có sống lâu được đâu mà”, mẹ nói.
“Mẹ đang nói gì vậy?” - tôi hỏi. “Nó đã sống 7 năm rồi đấy!”
Mẹ mỉm cười và nói với tôi, “Ellie à, đó không phải là Goldie ban đầu đâu. Con cá đầu tiên chỉ được hai tuần thôi. Khi nó chết, mẹ đã mua một con khác thả vào trong bát. 
Suốt mấy năm qua có nhiều cá lắm.”
“Vậy đây là con thứ bao nhiêu ạ?”
“Số mười ba đen đủi”, mẹ nói với vẻ mặt thất vọng. “Tất cả bọn chúng đều đen đủi”, tôi chữa lại.
Chúng tôi cho Goldie Mười Ba một đám tang trong bồn cầu rồi tôi hỏi mẹ rằng liệu tôi có thể nuôi một con chó không.
2. Câu đố
Ngôi nhà chúng tôi đang sống nhìn giống như một chiếc hộp giày. Có hai phòng ngủ và một phòng tắm, cái bồn cầu trong đó lúc nào cũng bị tắc. Tôi thầm nghĩ tất cả lũ cá bị xối xuống đã ám cái bồn.
Sân sau nhà chúng tôi nhỏ xíu - chỉ là một phiến bê tông chứa vừa đủ một cái bàn và vài cái ghế. Đó là lí do mẹ sẽ không cho tôi nuôi chó. Mẹ nói một con chó cần có cái sân thực thụ để chạy quanh, nên ở nhà tôi thật không công bằng cho nó.
Chị trông trẻ của tôi, Nicole, đi vào bếp khi tôi đang chơi xếp hình. Những mảnh ghép chiếm gần trọn mặt bàn.
“Lúc nào chị cũng thấy em xếp nó nhỉ, Ellie”, chị nói. “Có bao nhiêu miếng ghép tất cả vậy?”
“Một nghìn ạ”, tôi đáp.
Đó là một bức tranh về thành phố New York - có cảnh đường phố với những chiếc taxi màu vàng. Tôi mê xếp hình lắm. Tôi thích khám phá cái cách mọi thứ vừa vặn với nhau. Sao đường cong này khít với đường cong này và sao mảnh ghép ở góc lại có cạnh hoàn hảo như vậy.
“Một ngày nào đó chị sẽ lên Broadway ”, chị nói với tôi.
Nicole có mái tóc dài ánh bơ nhìn giống như trong một quảng cáo dầu gội đầu. Chị từng đóng vai Juliet trong vở Romeo và Juliet mà mẹ tôi đạo diễn ở trường trung học nơi tôi sống. Mẹ tôi là giáo viên dạy kịch trung học còn bố tôi là diễn viên. Bố mẹ ly hôn khi tôi còn bé, nhưng vẫn còn làm bạn với nhau.
Bố mẹ luôn nói rằng con cần phải tìm thấy đam mê của mình. Đặc biệt, bố mẹ muốn tôi đam mê sân khấu. Nhưng tôi thì không. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi có phải mình đã sinh ra vào nhầm nhà không nhỉ? Đứng trên sân khấu làm tôi lo sợ (tôi đã chứng kiến quá nhiều diễn viên nhầm lẫn lời thoại loạn xạ rồi), và tôi cũng không hâm mộ công việc hậu trường (lúc nào tôi cũng làm hỏng trang phục).
“Ồ, đúng rồi. Mẹ em vừa gọi. Bảo là sẽ về muộn”, Nicole nói. Gần như chợt nhớ ra, chị nói thêm: “Có việc gì đó hình như là phải đến chỗ cảnh sát đón ông em.”
Trong một giây, tôi cứ nghĩ là mình nghe nhầm.
“Sao ạ?” - tôi hỏi. “Ông không sao chứ?”
Chị nhún vai. “Mẹ em không nói. Nhưng cô ấy nói chúng ta có thể gọi pizza.”
Một tiếng sau, dù bụng đã lấp đầy pizza, nhưng tôi vẫn còn bất ngờ.
“Mẹ em có nói gì về lí do Ông ở chỗ cảnh sát không ạ?” - tôi hỏi.
Nicole nhìn có vẻ bối rối. “Không. Ông em có thường gặp rắc rối không?”
Tôi lắc đầu. “Chắc không đâu ạ. Ý em là, ông cũng già rồi mà”, tôi nói.
“Ông em bao nhiêu tuổi rồi?”
Tôi cũng không chắc nữa. Thực ra tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về nó. Chỉ là lúc nào trong mắt tôi nhìn ông cũng “già”: da nhăn nheo, tóc bạc, chống gậy. Hình ảnh người ông điển hình.
Chúng tôi chỉ gặp ông mỗi năm hai ba lần, thường là ở một nhà hàng Trung Hoa. Ông luôn gọi món moo goo gai pan và lấy trộm gói sốt đậu nành mang về nhà. Tôi thường thắc mắc không biết ông dùng chúng làm gì. Cũng không phải tại ông ở quá xa, nhưng ông và mẹ tôi không mấy hòa hợp. Là một nhà khoa học, ông nói sân khấu không phải một nghề thực sự. Ông vẫn còn giận mẹ vì đã không vào học Havard như ông.
Một tiếng còi ô tô kêu lên ở đằng xa.
“Hay là ông ấy bị tai nạn ô tô?” Nicole đoán. “Chị không hiểu sao chỉ có thanh niên bị mang tiếng, vì người già lái xe có khi còn tệ hơn ấy.”
“Ông ấy không lái xe nữa rồi.”
“Có thể ông ấy đi lạc.” Nicole gõ lên đầu. “Hàng xóm nhà chị có người bị Alzheimer . Bà ấy lúc nào cũng đi ra ngoài, rồi để cảnh sát phải tìm đưa về nhà.”
Nghe giống như chị ấy đang miêu tả một con chó vậy.
“Khổ thân bà”, tôi nói.
Nicole gật đầu. “Quá khổ ấy. Lần cuối cùng đi khỏi nhà, bà ấy bị một chiếc ô tô đâm phải! Chuyện đó thật điên rồ.”
Tôi nhìn sững vào chị và há hốc cả miệng.
“Nhưng chắc chắn ông của em không sao đâu”, chị nói.
Rồi chị hất tóc ra đằng sau và cười. “Này! Em có muốn làm chút bỏng ngô rồi xem phim không?”

3. Chiếc nhẫn
Không khí ấm áp luồn qua cửa sổ phòng tôi ngủ. Chúng tôi sống tại Vùng Vịnh, trong bóng mát của San Francisco, nên những đêm cuối tháng Chín có thể hơi se lạnh. Nhưng đêm nay trời lại nóng, giống như mùa hè từ chối không muốn đi vậy.
Tôi từng rất yêu cách trang trí trong phòng ngủ của mình, nhưng gần đây thì không biết nữa. Những bức tường phủ đầy dấu sơn in bàn tay của tôi và đứa bạn thân, Brianna. Chúng tôi bắt đầu làm việc đó từ năm lớp Một và cứ hàng năm lại thêm nhiều dấu tay hơn. Bạn có thể nhìn thấy dấu tay tôi lớn dần lên, giống như đó là cỗ máy thời gian của cuộc đời tôi vậy.
Nhưng năm học này chúng tôi chưa thêm dấu tay nào, bởi vì Brianna đã tìm ra niềm đam mê của nó: bóng chuyền. Giờ nó bận rộn tối ngày với các trại bóng chuyền, các buổi luyện tập và giải đấu cuối tuần. Sự thật là, tôi cũng không chắc nó có còn là bạn thân của mình không nữa.
Cuối cùng tiếng mở cửa garage cũng vang lên khi trời đã muộn. Tôi nghe thấy mẹ nói chuyện với Nicole ở phòng khách, liền ra chỗ họ.
“Cảm ơn em đã ở lại”, mẹ nói với Nicole.
Trông mẹ chẳng còn chút sức sống nào. Mascara nhòe đi dưới mắt, màu son đỏ thì bị phai gần hết. Tóc mẹ màu vàng sậm giống tôi, nhưng mẹ đã đi nhuộm. Bây giờ nó màu tím.
“Không có gì ạ”, Nicole trả lời. “Ông không sao chứ ạ?”
Một biểu cảm không thể đoán nổi lướt qua gương mặt mẹ tôi. “Ồ, ông cụ không sao. Cảm ơn em. Em có cần tôi đưa về không?”
“Em tự về được mà!” Nicole nói. “Đúng rồi, Lissa, có tin vui này em muốn báo với cô!”
“Ừ?”
“Em tìm được việc ở trung tâm mua sắm rồi! Rất tuyệt đúng không?”
“Tôi không biết là em đang tìm việc”, mẹ ngạc nhiên nói.
“Thì, em cũng không nghĩ là lại tìm được. Đó đúng là cơ hội lớn. Một tiệm xỏ lỗ tai ở trung tâm mua sắm!”
“Khi nào em bắt đầu làm?” - mẹ tôi hỏi.
“Chuyện đó mới khó đây. Họ muốn em bắt đầu vào chiều mai. Nên chắc em không thể trông Ellie được. Đáng ra em phải báo với cô sớm hơn, nhưng mà…”
“Tôi hiểu”, mẹ tôi nói, có thể nghe thấy sự căng thẳng trong giọng mẹ.
Nicole quay sang tôi. “Chị quên không nói với em. Chị được giảm giá đấy! Thích không? Nên bất cứ lúc nào rảnh cứ ghé qua chơi nhé.”
“Vâng, được ạ”, tôi nói.
“Chắc em nên về thôi”, chị nói. “Chúc ngủ ngon!”
“Ngủ ngon”, mẹ tôi nhắc lại.
Tôi đứng trước cửa với mẹ và nhìn chị đi xa dần vào màn đêm.
“Chị ấy vừa nghỉ việc hả mẹ?” Tôi hỏi. Tôi đang hơi sốc.
Mẹ gật đầu. “Ngày hôm nay đúng là tuyệt vời thật.”
Tôi nhìn chăm chăm vào màn đêm cố tìm kiếm bóng dáng chị bảo mẫu, nhưng lại nhìn thấy một người khác: một anh chàng với mái tóc dài. Anh đang đứng bên dưới cây cọ già sắp chết trước nhà chúng tôi. Những chiếc lá nâu to rụng khắp mọi nơi, và mẹ tôi nói nó cần phải rụng.
Anh có dáng người mảnh mai, nhìn gầy. Trông giống như mười ba, hay mười bốn tuổi gì đó? Đôi khi thật khó đoán tuổi bọn con trai.
“Cô phải mang rác ra ngoài chứ”, anh ta gọi mẹ tôi. Ngày mai là ngày đổ rác và chúng tôi phải xếp thùng rác dọc khu phố.
“Cậu cứ vào trong trước đã được không?” - mẹ tôi trả lời.
“Với cả lần cuối cùng cô bón cho cây là khi nào thế?” - anh hỏi. “Có cỏ dại đây này.”
“Muộn rồi”, mẹ tôi nói, giữ cánh cửa mở một cách thiếu kiên nhẫn.
Không biết anh ta có phải một trong số học trò của mẹ không. Thỉnh thoảng họ vẫn giúp mẹ tôi tha lôi đồ đạc lên xuống chiếc xe tải chở hàng méo mó, cồng kềnh.
“Cô phải chăm sóc ngôi nhà nếu muốn giữ giá cho nó chứ”, anh nói.
“Ngay bây giờ!”
Anh ta miễn cưỡng cầm một chiếc túi vải lớn lên và đi vào nhà chúng tôi.
Nhìn anh không giống như những thiếu niên trong đoàn kịch. Họ vẫn thường mặc quần jeans và áo phông, những loại trang phục thoải mái để hoạt động. Còn anh chàng này mặc một cái áo sơ mi sọc nhàu nhĩ, quần kaki pha polyester, một chiếc áo khoác vải tuýt với những mảng vá trên khuỷu tay, đi một đôi giày lười bằng da. Nhưng nổi bật nhất là đôi tất anh ta đi: tất cao cổ màu đen . Bạn chẳng mấy khi thấy nam sinh trung học ăn mặc như thế. Nhìn giống như anh đang trên đường đến lễ trưởng thành của một chàng trai Do Thái vậy.
Anh ta nhìn tôi bằng một cái nhìn “xuyên thấu”.
“Con bé này có được vào danh sách tuyên dương không?”
Tôi lúng túng, nhưng vẫn trả lời.
“Ừ thì, bọn em vẫn chưa có bảng điểm.”
Ở anh ta có gì đó rất quen. Mái tóc nâu sẫm xù xì ở một bên và dưới đuôi nhuộm màu xám. Một diễn viên trong số các chương trình của mẹ chăng?
“Nhưng anh là ai?” - tôi hỏi.
Anh ta lờ đi.
“Phải có điểm số tốt thì em mới có thể đăng ký vào một chương trình PhD cạnh tranh được.”
“Chương trình PhD? Con bé mới 11 tuổi thôi mà!” - mẹ tôi nói.
“Cũng không thể bắt đầu quá sớm. Nhưng nhắc đến chuyện đó”, anh nói, nhìn thẳng vào trang phục của mẹ tôi, “đó là thứ cô mặc đi làm sao?”
Mẹ tôi có sở thích trình diễn tủ quần áo sân khấu ở trường. Sáng hôm đó, mẹ rời nhà trong một chiếc chân váy satin dài chấm đất phối với áo khoác bolero và sơ mi nhà thơ màu trắng xếp li.
“Có lẽ cô nên xem xét đến chuyện mua một bộ âu phục đẹp thì hơn,” anh ta gợi ý.
“Ra cậu vẫn đang kẹt ở Thời kì đồ đá, tôi hiểu rồi”, mẹ tỉa lại.
Rồi anh quay ra nhìn tôi, để ý bộ đồ ngủ gồm áo ngắn và quần túi hộp tôi đang mặc.
Anh nói: “Sao đồ ngủ của con bé ngắn vậy? Mấy bộ dài bị làm sao rồi? Nó cũng mê lũ con trai giống mẹ nó sao?”
“Tất cả con gái ở tuổi nó đều mặc đồ ngủ như thế hết”, mẹ trả lời hộ tôi. “Và tôi cũng không mê trai nhé!”
“Cô đã mê trai đến mức bỏ nhà đi còn gì”, anh nói.
“Tôi chỉ từng yêu thôi,” mẹ trả lời qua hàm răng nghiến chặt.
“Bằng tiến sĩ tồn tại lâu hơn tình yêu nhiều đấy”, anh thêm vào. “Vẫn chưa quá muộn để quay lại trường đâu. Cô vẫn còn cơ hội lấy bằng.”
Có gì đó trong toàn bộ cuộc trao đổi này chợt gợn lên trong trí nhớ của tôi. Giống như đang được xem lại một bộ phim đã xem rồi vậy. Tôi nhìn kĩ anh chàng - mái tóc xám ngọn, cái cách anh ta đứng thoải mái trong phòng, cách bàn tay phải của anh ta nắm vào mở ra như từng quen với việc cầm nắm thứ gì đó. Nhưng thứ khiến tôi chú ý nhất là chiếc nhẫn vàng nặng đeo lỏng lẻo trên ngón giữa của anh. Đó là một chiếc nhẫn huy hiệu, loại mà bạn được nhận ở trường đại học, nhìn có vẻ đã cũ mòn và có một viên đá đỏ đính ở giữa.
“Con từng thấy cái nhẫn đó rồi”, tôi nói, rồi chợt nhớ ra đã nhìn thấy nó trên bàn tay của ai. Tôi nhìn lại anh ta.
“Ông?” - tôi thốt lên.
4. Ảo thuật gia
“Chứ cháu nghĩ là ai?” - ông nói. “Cô tiên răng à?”
Nhìn bề ngoài thì ông có vẻ là một cậu bé 13 tuổi, nhưng khi nhìn thật gần tôi có thể nhận ra những nét của ông mình. Đôi mắt xanh màu nước. Chuyển động miệng có phần kì dị. Đôi lông mày giao nhau ở giữa.
“Vậy đây là phép thuật gì đó ạ?” Tôi hỏi.
“Cậu bé” nhăn miệng lại nhìn sang mẹ tôi. “Cô nuôi dạy cháu gái của tôi để nó tin vào mấy thứ phép thuật đó à? Đây là hậu quả của việc cô theo đuổi nghề kịch đấy.” Ông nói “kịch” như đó là từ gì tồi tệ lắm vậy.
“Tùy bố nghĩ”, mẹ tôi nói, ngán ngẩm như cô con gái tuổi mới lớn.
“Đây là khoa học, rất rõ ràng và đơn giản”, ông nói với tôi.
Nhưng tôi chẳng thấy cái gì đơn giản cả và chỉ lắc đầu.
Ông thở dài giận dữ. “Rõ ràng một cách hoàn hảo còn gì. Ta đã thiết kế được một phương pháp đảo ngược quá trình lão hóa thông qua tái tạo tế bào.”