Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Nguyễn Tuấn Linh

Họ tên: Nguyễn Tuấn Linh
Ngày sinh: 17/2/1994
Làng Mai Hiên, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội.
......................................................

Chàng cá vàng thứ 14

1. Vàng Óng

Hồi còn mầm non, tôi học cô giáo Starlily. Cô hay diện váy nhuộm cầu vồng và lúc nào cũng mang theo bánh quy làm từ yến mạch và hạt lanh, vị thì nhạt thếch.
Cô Starlily dạy chúng tôi ngồi yên lúc ăn nhẹ, lấy khuỷu tay che mỗi khi hắt xì, và đừng có ăn đồ Play-Doh (hình như đứa nào cũng muốn nghĩ phần này chỉ là khuyên qua loa thế thôi). Một hôm nọ, cô cho chúng tôi mỗi đứa một con cá vàng mang về nhà. Cô mua mất mười đô la ngoài cửa hàng thú cảnh. Cô giáo không quên nhắn cha mẹ chúng tôi một bài nói trước khi gửi hàng đến.
“Loài cá vàng sẽ dạy các con nhà mình về vòng tuần hoàn cuộc sống.” Cô giải thích, “Cá vàng không sống được lâu.”
Tôi mang con cá về và đặt tên là Vàng Óng như mọi đứa trẻ khác, bọn trẻ luôn nghĩ chúng là độc nhất. Mà tôi nhận ra Vàng Óng cũng là độc nhất đấy.
Bởi vì Vàng Óng đã không chết.
Ngay cả khi cá của tất cả bạn cùng lớp tôi đã bơi vào bể cá vĩnh hằng trên trời, thì Vàng Óng vẫn sống. Khi tôi vào mẫu giáo, vẫn sống. Vào lớp một, vẫn sống. Vào lớp hai, lớp ba và lớp bốn, vẫn sống. Rốt cuộc, vào năm ngoái khi lớp năm, một buổi sáng nọ tôi vào bếp và thấy cá của tôi nằm ngửa bụng trong bát.
Mẹ tôi rên rỉ khi nghe tôi thông báo.
“Anh chàng ấy không sống được lâu mà,” bà nói.
“Mẹ có nhầm không?” tôi vặn. “Cậu ta được bảy tuổi rồi đấy!”
Mẹ mỉm cười nói, “Ellie, đó không phải Vàng Óng độc nhất đâu. Con đầu tiên chỉ sống được hai tuần. Khi nó chết, mẹ đã mua con mới thế vào bát. Đã có rất nhiều cá được thay những năm qua.”
“Con này là thứ bao nhiêu hả mẹ?”
“Số mười ba xấu vận,” bà đáp, ánh mắt gượng gạo.
“Tất cả chúng đều xấu vận cả,” tôi đính chính.
Chúng tôi cử hành tang lễ cho Vàng Óng Mười Ba trong bồn cầu, và tôi hỏi ý mẹ liệu có thể nuôi một con chó không.

2. Ghép tranh

Ngôi nhà gia đình tôi ở trông giống cái hộp giày. Nó có hai phòng ngủ và một phòng tắm, bên trong chứa cái bồn cầu bị tắc luôn luôn. Tôi nghĩ bụng nó bị oan hồn những con cá từng xả xuống ám quẻ cũng nên.
Sân sau nhà tôi nhỏ xíu – chỉ là một phiến bê tông vừa đủ kê một bộ bàn ghế. Vì thế nên mẹ mới không cho tôi nuôi chó. Mẹ bảo như vậy tội nghiệp nó, một chú chó phải có một cái sân đích thực để nó chạy chơi loanh quanh.
Chị giữ trẻ Nicole nhà tôi bước vào bếp, phải chỗ tôi đang chơi trò ghép tranh. Tôi đã chiếm dụng cái bàn để bày nó lên.
“Em ghép nó phải được cả trăm năm rồi đấy, Ellie,” chị nói. “Có bao nhiêu mảnh vậy?”
“Một nghìn,” tôi đáp.
Bức tranh ghép này về thành phố New York – cảnh đường phố với vài chiếc tắc xi màu vàng. Tôi yêu ghép tranh. Tôi thích khám phá làm sao cho từng mảnh hợp vào nhau. Đẹp làm sao đường cong này khớp đường cong nọ và đẹp làm sao góc vuông hoàn hảo của mảnh ghép đỉnh.
“Chị sẽ đến sân khấu Broadway một ngày không xa,” chị chia sẻ.
Nicole có mái tóc vàng bơ dài như thể chị vừa bước ra từ nhãn quảng cáo dầu gội đầu. Chị sắm vai Juliet trong vở Romeo và Juliet mà mẹ tôi làm đạo diễn tại trường cao học địa phương. Mẹ tôi là giáo viên kịch tại trường cao học còn bố tôi là diễn viên. Bố mẹ đã ly hôn từ khi tôi còn nhỏ, nhưng hai người vẫn làm bạn với nhau.
Họ lúc nào cũng bảo tôi cần phải tìm được đam mê. Cụ thể họ muốn tôi đam mê sân khấu. Nhưng tôi không. Đôi khi tôi tự hỏi không biết mình có sinh nhầm nhà không nữa. Sân khấu làm tôi thấy căng thẳng (tôi đã thấy không thiếu những gã diễn viên cuống cuồng trên sân), và tôi càng không ham hố công việc đằng sau cánh gà (tôi toàn phải lo gánh công việc trang phục).
“À phải rồi. Nãy mẹ em gọi. Cô bảo sẽ bị muộn,” Nicole nói. Như phải nhớ lại, chị nói thêm, “Có vấn đề gì đó giữa ông em với cảnh sát.”
Trong khoảnh khắc, tôi ngỡ mình nghe nhầm.
“Gì cơ?” tôi hỏi. “Ông không sao chứ?”
Chị nhún vai. “Cô không nói. Cô chỉ bảo chị em mình có thể gọi pizza.”
Một giờ sau, bụng tôi chứa no bánh pizza, nhưng tôi vẫn lo lắm.
“Mẹ em có nói gì về chuyện giữa ông và cảnh sát nữa không chị?” tôi hỏi.
Nicole trông vẻ hoang mang. “Không. Mà liệu ông có gặp nhiều rắc rối không nhỉ?”
Tôi lắc đầu quầy quậy. “Em không nghĩ vậy đâu. Ý em là, ông già rồi,” tôi đáp.
“Ông bao nhiêu tuổi?”
Tôi không biết chắc. Thật sự thì tôi chưa bao giờ để ý đến tuổi ông. Chỉ là đối với tôi thì ông trông “già”: nhăn nheo, tóc bạc, chống gậy. Như một người già điển hình vậy đấy.
Chúng tôi chỉ gặp ông hai hay ba lần một năm, thường là trong nhà hàng Trung Quốc. Ông lần nào cũng gọi món moo goo gai pan và thó mất vài gói nước sốt đậu nành về nhà. Tôi thường thắc mắc ông sẽ làm gì với chúng. Ông sống không xa nhà tôi, nhưng quan hệ giữa ông và mẹ tôi không được tốt lắm. Ông là nhà khoa học và ông nói sân khấu không phải là công việc chân chính. Ông vẫn giận lắm kể từ khi mẹ không theo học Harvard như ông.
Có tiếng còi xe báo động vẳng từ xa xa.
“Biết đâu ông gặp va chạm giao thông?” Nicole đoán. “Chị không hiểu sao người trẻ thường bị phạt oan, rõ ràng người già ai cũng lái xe kém hơn.”
“Ông không lái xe nữa rồi.”
“Có thể ông đi lang thang.” Nicole vỗ vỗ trán. “Bà hàng xóm chị bị Alzheimer. Bà ta trốn ra ngoài suốt ngày. Lần nào cũng là cảnh sát trả bà ta về nhà.”
Nghe chị ta nói như thể đang miêu tả một con chó.
“Buồn thật,” tôi đáp.
Nicole gật đầu. “Rất buồn. Lần cuối cùng trốn ra ngoài, bà ta bị ô tô đâm. Thế có tệ không cơ chứ?”
Tôi há hốc miệng nhìn chị chăm chăm.
“À nhưng chị chắc chắn ông em sẽ ổn,” chị nói.
Rồi chị hất nhẹ mái tóc và cười. “Này! Có muốn một bịch bỏng ngô và đi xem phim không?”



3
Chiếc nhẫn

Không khí nóng lướt vào qua cửa sổ phòng ngủ tôi. Chúng tôi sống ở Vùng Vịnh, trong bóng tối của San Francisco, và đáng lẽ cuối tháng Chín trời mát. Nhưng đêm nay nóng, tựa hồ mùa hè lưu luyến chẳng muốn rời khỏi.
Tôi đã từng yêu cách trang trí phòng ngủ của mình, nhưng gần đây thì không hẳn. Các bức tường được bao phủ bằng dấu tay in màu của tôi và đứa bạn thân, Brianna. Chúng tôi bắt đầu in chúng vào lớp một và lại in thêm cứ sau mỗi năm. Bạn có thể trông thấy dấu tay nhỏ xíu của tôi lớn lên dần dần, như thể chúng là viên nén thời gian cuộc đời tôi.
Nhưng chúng tôi chưa in thêm cái nào vào năm học này, thậm chí cả mùa hè này, bởi vì Brianna đã tìm được đam mê của bạn: bóng chuyền. Bây giờ bạn ấy bận rộn từng giây, nào thì với đội, với tập, với thi đấu cuối tuần. Sự thật thì, tôi đang không biết bạn ấy có còn là bạn thân mình không.
Cửa nhà để xe mở ra ken két vào tối muộn. Tôi nghe tiếng mẹ nói chuyện với chị Nicole ở sảnh trước, và tôi đi cùng họ.
“Cảm ơn cháu,” mẹ nói với Nicole.
Mẹ tôi trông mệt rã rời. Mascara nhòe đi trên mí, màu son đỏ cũng phai. Màu tóc tự nhiên của mẹ là vàng đất giống tôi, nhưng mẹ nhuộm đè lên. Bây giờ nó là màu tím.
“Không có gì cô ạ,” Nicole trả lời. “Bố cô không sao chứ?”
Một biểu cảm khó hiểu lướt qua khuôn mặt mẹ. “À, ông ấy ổn. Cảm ơn cháu đã hỏi thăm. Cháu có cần cô đưa về không?”
“Cháu ổn!” Nicole nói. “Nhân tiện, cô Lissa, cháu có tin hấp dẫn!”
“Ơi?”
“Cháu nhận được việc tại trung tâm thương mại rồi! Tuyệt không nào?”
“Cô không biết cháu đang tìm việc làm,” mẹ tôi đáp, bối rối.
“Vâng, cháu đã không nghĩ mình được nhận. Quả là cơ hội lớn. Cháu ở khu bấm lỗ tai của trung tâm!”
“Khi nào cháu bắt đầu làm?”
“Khó xử rồi đây. Họ muốn cháu bắt đầu vào chiều mai. Vậy nên cháu không thể trông Ellie được nữa. Đáng lẽ cháu nên báo cô sớm hơn, nhưng…”
“Cô hiểu,” mẹ tôi nói, và tôi có thể nghe được sự căng thẳng trong giọng bà.
Nicole quay sang tôi. “Chị quên khoe với em. Chị có thẻ giảm giá! Thích chứ? Em có thể ghé qua bất cứ lúc nào để mua hàng.”
“Ồ, vâng,” tôi trả lời.
“Cháu nên về thôi,” chị nói. “Chúc ngủ ngon!”
“Chúc ngủ ngon,” mẹ tôi đáp như vọng lại.
Tôi đứng trên ngưỡng cửa cùng mẹ nhìn chị bước xa vào trong đêm tối.
“Thế là chị ấy nghỉ việc hả mẹ?” tôi hỏi. Tôi đang khá sốc.
Mẹ tôi gật đầu. “Hôm nay là một ngày đáng nhớ đây.”
Tôi nhìn đăm đăm vào màn đêm hòng níu giữ hình ảnh cuối của chị trông trẻ nhà mình, nhưng tôi thấy thêm một người khác: một cậu bé để tóc dài. Cậu ta đang đứng dưới cây cọ già khô xác trên bãi cỏ trước nhà tôi. Cái cây rụng những tàu lá nâu to tướng xuống khắp nơi, và mẹ tôi bảo nó cần được đốn hạ.
Cậu bé gầy, trông rắn rỏi. Nhìn cậu cỡ mười ba tuổi, có thể mười bốn? Đôi khi thật khó nói với tụi con trai.
“Chị cần để rác ra ngoài,” cậu bé gọi mẹ tôi. Mai là ngày rác và những hàng xóm nhà tôi đều đã để thùng rác xếp hàng bên đường.
“Vào trong nhà đã chứ?” mẹ tôi nói với cậu bé.
“Lần cuối chị chăm bãi cỏ là khi nào thế?” nó hỏi. “Toàn là cỏ dại.”
“Bây giờ muộn rồi,” mẹ tôi nói, sốt ruột giữ cánh cửa đang mở.
Tôi thắc mắc không biết cậu ta có phải một trong những học trò của mẹ không. Đôi khi bọn họ vẫn giúp bà chở hàng trên chiếc xe tải to và méo mó.
“Cô phải bảo tồn ngôi nhà của cô nếu cô muốn nó tự bảo tồn giá trị của nó,” cậu bé nói.
“Vào ngay!”
Cậu bé miễn cưỡng nhấc lên cái túi đồ to và đi vào nhà tôi.
Trông nó không giống những đứa trẻ điển hình của đoàn nhà hát. Chúng thường mặc quần bò và áo thun cơ, những đồ thuận tiện khi làm việc. Cậu bé này mặc áo sơ mi sọc nhàu nhĩ, quần kaki, áo khoác vải tuýt với hai miếng vá ở khuỷu tay, và giày lười. Nhưng đôi tất của nó làm tôi chú ý hơn cả: một đôi tất đen cao. Ta không thể thấy tụi con trai trường trung học ăn mặc kiểu vậy. Cậu bé này mặc như thể đang trên đường đi làm lễ bar mitzvah.
Cậu ta nhìn vào tôi như muốn xuyên thấu.
“Cháu có tên trong bảng danh dự không?”
Tôi giật thột, nhưng vẫn trả lời.
“À, bọn mình chưa được nhận giấy báo cáo.”
Cậu bé này có gì đó thân quen. Mái tóc đen sẫm, bù xù ở hai bên, và đuôi tóc ngả xám. Một trong những diễn viên ở show của mẹ chăng, có lẽ?
“Bạn là ai?” tôi hỏi nó.
Thằng bé phớt lờ.
“Cháu phải học tốt ngay ở lớp nếu muốn được vào chương trình đào tạo Tiến sĩ giá trị.”
“Đào tạo Tiến sĩ? Con bé mới mười một tuổi!” mẹ tôi phản pháo.
“Chị không thể nói tuổi đó còn là sớm. Mà nói về thứ kia,” cậu ta nói, khinh khỉnh nhìn vào bộ đồ mẹ tôi mặc, “đó là cái mà chị mặc đi làm đấy hả?”
Mẹ tôi thích đột kích tủ quần áo nhà hát của trường. Sáng nay, mẹ rời nhà trong bộ đầm sa tanh đen dài chấm đất phối với áo khoác bolero cùng với sơ mi thi sĩ xếp nếp trắng.
“Có lẽ chị nên cân nhắc mua một bộ pantsuit,” nó gợi ý.
“Hóa ra bây giờ vẫn đang Thời Đồ Đá nhỉ,” mẹ độp lại.
Rồi cậu bé quay sang nhìn tôi, đến lượt bộ pajama áo-ba-lỗ-phối-quần-ống-rộng của tôi được săm soi.
Nó nói liên thanh, “Sao pajama ngắn thế kia? Mấy bộ đồ ngủ dài đâu hết rồi? Hay là cháu cũng thuộc dạng đong-giai như con mẹ cháu?”
“Tất cả con gái độ tuổi nó đều mặc pajama như vậy,” mẹ trả lời hộ tôi. “Và tôi không đong-giai!”
“Không đong-giai mà bỏ nhà đi với trai đấy,” nó đáp.
“Đó là tình yêu,” giọng mẹ xì ra qua hàm răng nghiến chặt.
“Bằng Tiến sĩ tồn tại lâu hơn nhiều tình yêu,” cậu bé đáp. “Giờ vẫn chưa quá muộn để trở lại trường đâu. Chị vẫn còn cơ hội đứng vào địa vị thực sự.”
Thứ gì đó trong cuộc hội thoại này mơn trớn ký ức tôi. Như thể tôi đang xem lại bộ phim tôi từng xem. Tôi nghiên cứu cậu bé – ngọn tóc ngả xám, cách cậu ta đứng thoải mái trong sảnh nhà tôi, kiểu bàn tay phải mở ra nắm vào như thói quen cầm nắm vật gì. Nhưng chính cái nhẫn vàng nặng đeo hờ ở ngón giữa đã đập vào mắt tôi. Nó là nhẫn trường, loại được nhận ở đại học, và trông nó cũ, mòn vẹt và có viên hồng ngọc đính ở giữa.
“Mình từng thấy cái nhẫn này trước kia,” tôi nói, và nhớ lại xem ai từng đeo nó.
Tôi nhìn cậu bé.
“Ông?” tôi thốt lên.

4
Thầy pháp

“Chứ cháu tưởng ai?” nó hỏi. “Cô tiên răng chắc?”
Cậu bé trông như hệt một đứa con trai mười ba tuổi, nhưng khi nhìn thật gần tôi có thể thấy những nét đặc trưng của ông mình. Đôi mắt ướt xanh biếc. Cái miệng trông hơi mỉa mai. Kiểu nheo mắt.
“Đây là phép màu ạ?” tôi hỏi.
Cậu bé cong môi và nhìn vào mẹ tôi. “Chị đang nuôi dạy cháu tôi theo kiểu tin vào phép thuật đấy à? Rõ ràng là hậu quả từ việc theo học kịch.” Nó nói từ “kịch” như thể từ đấy tục tĩu lắm.
“Sao cũng được, bố ạ,” mẹ tôi đáp, nghe như một cô gái tuổi teen chán chường.
“Đây là khoa học, sáng tỏ và đơn giản,” ông trả lời tôi.
Nhưng tôi chả thấy gì đơn giản ở đây hết nên chỉ biết lắc đầu.
Ông buông tiếng thở dài bực tức. “Nó hoàn toàn rõ ràng. Ông đã thiết kế cách thức đảo ngược quá trình lão hóa thông qua tái tạo tế bào.”