Thử tài dịch sách: Chú cá vàng thứ 14 - Phạm Ngọc Anh

Họ và tên: Phạm Ngọc Anh
Ngày tháng năm sinh:1997
Trường: Đại học Luật Hà Nội
.....................................
1

Goldie

Hồi còn đi nhà trẻ, tôi có một cô giáo tên là Starlily. Cô thường mặc những bộ váy nhuộm tie-dye(1) bảy sắc cầu vồng và luôn mang theo những chiếc bánh bích quy nhạt thếch làm từ ngũ cốc granola(2) và hạt lanh.
Cô Starlily dạy chúng tôi ngồi yên một chỗ trong giờ ăn nhẹ, lấy khuỷu tay che miệng khi hắt xì và không ăn đất nặn Play-Doh (thứ mà phần lớn bọn trẻ chúng tôi nghĩ là phần ăn tự chọn). Một ngày nọ, cô tặng cho mỗi đứa một con cá vàng. Cô đã mua chúng với giá 1 đô 10 con ở một tiệm thú nuôi. Cô cũng nói chuyện với cha mẹ trước khi gửi chúng tôi về nhà. 
“Cá vàng sẽ dạy bọn trẻ về vòng đời.” Cô giải thích, “ Các vị biết đấy, vòng đời của cá vàng không được dài.”
Tôi đem chú cá của mình về nhà và như bất kỳ đứa trẻ nào khác, tôi gọi nó là Goldie, nghĩ rằng đó là cái tên độc nhất. Nhưng hóa ra, Goldie thực sự là con cá vàng có một không hai.
Bởi Goldie không chết. 
Thậm chí sau khi cá của tất cả các bạn trong lớp đều lần lượt ra đi, Goldie vẫn sống sót. Vẫn sống cho đến khi tôi vào mẫu giáo. Vẫn sống năm tôi lên lớp một, lớp hai, lớp ba và cả lớp bốn. Rồi cuối cùng, một buổi sáng năm tôi học lớp năm, tôi đi vào bếp và phát hiện nó nổi phơi bụng trong bình.
Mẹ rên rỉ khi tôi kể với bà.
“Cá vàng không sống được lâu,” Mẹ nói.
“Sao mẹ lại nói thế?” Tôi hỏi. “Nó đã sống những bảy năm!”
Mẹ cười và giải thích: “Ellie, đó không phải là Goldie ban đầu. Con cá đầu tiên chỉ sống được hai tuần. Khi nó chết, mẹ mua con khác thả vào bình. Đã có rất nhiều con cá vàng như thế qua từng ấy năm.”
“Đây là con thứ bao nhiêu hả mẹ?”
“Số 13 tội nghiệp,” Mẹ nói với vẻ gượng gạo.
“Chúng đều tội nghiệp,” Tôi nói thêm.
Chúng tôi cử hành tang lễ cho Goldie Thứ Mười Ba trong bồn cầu, sau đó tôi xin phép mẹ cho nuôi một chú chó.

2

Những mảnh ghép

Ngôi nhà chúng tôi sống trông như một cái hộp đựng giày. Nó có hai phòng ngủ và một phòng tắm, nơi cái bồn cầu luôn tắc. Tôi thầm nghĩ nó hẳn là bị ám bởi những con cá chúng tôi thả trôi xuống đó.
Sân sau nhà rất nhỏ - chỉ là một phiến bê tông đặt vừa một cái bàn và vài chiếc ghế. Đó là lý do mẹ không cho phép tôi nuôi cún, rằng thật không công bằng vì một chú chó cần không gian rộng rãi để chơi đùa.
Chị bảo mẫu Nicole đi vào bếp, nơi tôi đang chơi trò ghép hình. Những mảnh ghép được bày ra chiếm gần hết cái bàn.
“Ellie, em chơi trò này mãi nhỉ,” chị ấy nói. “Có tất cả bao nhiêu mảnh ghép vậy?”
“Một nghìn ạ,” Tôi trả lời.
Đó là bức tranh thành phố New York – khung cảnh một đường phố với những chiếc taxi màu vàng. Tôi thích ghép hình. Tôi thích việc cố gắng để mọi thứ trở nên vừa vặn với nhau. Làm sao để một đường cong gặp một đường cong khác và tạo góc độ hoàn hảo với mảnh ghép góc.
“Một ngày nào đó chị sẽ diễn ở Broadway,” chị ấy nói với tôi.
Nicole có mái tóc dài mượt mà như những diễn viên trong quảng cáo dầu gội đầu. Chị ấy từng đóng vai Juliet trong vở kịch Romeo và Juliet mẹ tôi đạo diễn ở trường trung học địa phương. Mẹ tôi - giảng viên kịch nghệ trường trung học và cha tôi - một diễn viên, đã ly hôn khi tôi còn nhỏ nhưng họ vẫn duy trì tình bạn với nhau. 
Cha mẹ cứ nhắc đi nhắc lại rằng tôi cần tìm niềm đam mê riêng cho bản thân, mà cụ thể, ý họ là sân khấu. Nhưng tôi thì không như thế. Đôi khi tôi tự hỏi liệu mình có sinh ra nhầm gia đình hay không. Đứng trên sân khấu khiến tôi lo lắng (tôi từng chứng kiến rất nhiều diễn viên nhầm lời thoại trong khi biểu diễn), và tôi cũng không hứng thú gì với công việc hậu cần (tôi luôn lãnh việc là hơi trang phục).
“Ồ, phải rồi. Mẹ em gọi đấy. Bà ấy sẽ về muộn mất thôi,” Nicole nói. Gần như ngắt quãng để suy nghĩ rồi chị tiếp tục, “Có rắc rối với việc đưa ông em ra từ đồn cảnh sát thì phải.”
Trong một giây, tôi nghĩ tôi đã nghe nhầm.
“Sao cơ ạ?” Tôi hỏi. “Ông em không sao chứ?”
Chị ấy nhún vai. “Mẹ em không nói nhưng bà ấy bảo chúng ta có thể đặt một chiếc pizza.”
Một tiếng sau, dù dạ dày đã ngập đầy pizza, tôi vẫn cảm thấy bối rối.
“Mẹ em có nói tại sao ông lại bị cảnh sát bắt không ạ?” Tôi hỏi.
Nicole trông rất hoang mang. “Không. Ông ấy hay gặp rắc rối lắm à?”
Tôi lắc đầu. “Em không nghĩ thế. Ý em là, ông đã già rồi,” tôi nói.
Nhưng tôi cũng không thực sự chắc chắn. Tôi chưa từng thực sự suy nghĩ về nó. Ông ngoại chỉ là trông “già” đối với tôi: da nhăn nheo, tóc bạc, tay cầm một cây gậy – hình ảnh người ông bà quen thuộc với tất cả mọi người.
Chúng tôi chỉ gặp ông hai đến ba lần một năm, thường là ở một nhà hàng Trung Hoa. Ông luôn gọi món moo goo gai pan(3) và lấy trộm những gói sốt đậu nành đem về nhà. Tôi thường tự thắc mắc ông làm gì với chúng. Ông sống không quá xa nhà tôi, nhưng ông và mẹ không hòa thuận cho lắm. Ông là một nhà khoa học và cho rằng kịch nghệ không phải là một công việc thật sự. Ông vẫn còn giận chuyện mẹ không đến học ở Harvard giống ông.
Từ xa vang lại một tiếng còi xe báo động.
“Cũng có thể ông em gặp tai nạn xe?” Nicole phỏng đoán. “Chị không biết tại sao trẻ thành niên lại hay bị mắng mỏ trong khi người già thường lái xe tệ hơn.”
“Ông em không còn lái xe nữa.”
“Có thể lúc đó ông đang đi loanh quanh.” Nicole tự gõ vào đầu. “Chị có một người hàng xóm mắc chứng Alzheimer’s(4). Bà ấy cứ lang thang ở ngoài mãi thôi. Cảnh sát luôn phải đưa bà về nhà.” Chị ấy nói như thể đang miêu tả một con chó vậy.
“Thật là đáng buồn,” tôi nói.
Nicole gật đầu. “Vô cùng đáng buồn. Lần cuối cùng bà ấy chạy ra ngoài, bà đã bị một chiếc ô tô đâm trúng! Còn có chuyện gì điên rồ hơn chứ?!”
Tôi há hốc miệng nhìn chị ấy chằm chằm.
“Nhưng chị chắc chắn ông em không sao đâu,” Nicole nói.
Rồi chị lại hất tóc và cười. “Này! Có muốn làm ít bỏng ngô và xem phim không?”

 



3

Chiếc nhẫn

Luồng không khí nóng nực lùa vào cửa sổ phòng tôi. Chúng tôi sống trong Vùng Vịnh, dưới cái bóng của San Francisco, và những đêm cuối tháng Chín trời thường mát mẻ. Nhưng tối nay lại rất nóng, cứ như là mùa hè từ chối rời đi vậy.
Tôi từng rất thích cách trang trí phòng ngủ của mình, nhưng gần đây tôi không chắc về điều đó cho lắm. Những bức tường chi chít dấu vân tay sơn của tôi và Brianna, bạn thân nhất của tôi. Chúng tôi bắt đầu việc này khi học lớp một và mỗi năm lại vẽ thêm nhiều hơn. Bạn có thể nhìn thấy những dấu vân tay bé nhỏ của tôi to dần, như là một cách tôi ghi dấu thời gian của cuộc đời.
Nhưng chúng tôi chưa in thêm dấu vân tay nào trong năm học này, đúng hơn là trong cả mùa hè này vì Brianna đã tìm thấy đam mê của bạn ấy: bóng chuyền. Bạn ấy bận rộn mỗi giờ mỗi phút với việc luyện tập, kiểm tra sức khỏe và các giải đấu cuối tuần. Sự thật là, tôi thậm chí không chắc Brianna có còn là bạn thân nhất của mình nữa hay không.
Trời đã tối và cánh cửa nhà để xe cuối cùng cũng ken két mở ra. Nghe tiếng mẹ nói chuyện với Nicole ở sảnh trước, tôi đi đến chỗ họ đang đứng.
“Cảm ơn vì đã ở lại,” mẹ nói với Nicole.
Mẹ tôi trông mệt mỏi rã rời. Mascara nhòe dưới mắt, son môi đỏ phai màu. Màu tóc tự nhiên của mẹ màu vàng, trông hơi dơ dáy như tôi nhưng mẹ đã nhuộm rồi. Bây giờ thì nó có màu đỏ tía.
“Không có gì,” Nicole đáp. “Cha cô ổn chứ ạ?”
Một biểu cảm không thể đọc được thoáng qua gương mặt mẹ. “Ồ, ông ấy ổn. Cảm ơn em vì đã hỏi thăm. Em có cần cô đưa về nhà không?”
“Không cần đâu ạ!” Nicole nói. “Nhân tiện, cô Lissa này, em có một vài tin tốt lành!” 
“Gì thế?” 
“Em đã tìm được việc ở trung tâm thương mại! Điều đó thật tuyệt phải không cô?”
“Cô không biết là em đã đi tìm việc đấy,” mẹ tôi nói, tỏ vẻ bối rối.
“Vâng, em không nghĩ là em sẽ được nhận. Đó là một cơ hội lớn. Tiệm xỏ khuyên tai ở trung tâm thương mại!”
“Khi nào thì em bắt đầu?” mẹ tôi hỏi.
“Đó là một vấn đề rắc rối… Họ muốn em bắt đầu làm vào chiều mai. Vì thế em không thể trông Ellie được nữa. Em thực sự đã định nói với cô trước, nhưng…”
“Cô hiểu,” mẹ nói, và tôi có thể nghe thấy sự căng thẳng trong giọng nói của bà.
Nicole quay sang tôi. “Chị quên chưa nói với em. Chị có phiếu giảm giá đấy. Tuyệt quá phải không? Vì thế hôm nào đó hãy đến và mua sắm nhé.”
“Vâng, em sẽ đến,” tôi nói.
“Chị nên về thì hơn,” Nicole tiếp tục. “Chúc mọi người ngủ ngon nhé!”
“Chúc em ngủ ngon,” mẹ tôi lặp lại.
Tôi đứng ở ngưỡng cửa với mẹ và nhìn theo bóng chị ấy khuất dần vào bóng tối.
“Chị ấy nghỉ việc… chỉ như thế thôi ạ?” tôi hỏi. Lúc đó tôi hơi choáng váng.
Mẹ tôi gật đầu. “Điều này đã trở nên quen thuộc rồi con à.”
Tôi nhìn chằm chằm vào bóng tối trông đợi hình ảnh cuối cùng của chị bảo mẫu, nhưng lại nhìn thấy một người khác: một cậu bé tóc dài. Cậu ấy đứng ngay dưới cây cọ cổ thụ đang chết dần chết mòn trên bãi cỏ trước nhà tôi. Nó rụng những chiếc lá nâu lớn khắp nơi, và mẹ tôi nói nó cần phải được chặt đi.
Cậu bé trông gầy guộc nhưng rắn rỏi. Tầm 13, có lẽ 14 tuổi chăng? Đôi khi thật khó để phân biệt độ tuổi của đám con trai.
“Con cần phải mang thùng rác ra ngoài này,” cậu bé nói với mẹ tôi. Ngày mai là ngày rác và thùng rác của những người hàng xóm quanh nhà chúng tôi đã được xếp hàng thẳng tắp theo con phố.
“Bố vào nhà đã được không?” mẹ tôi nói với cậu bé.
“Và khi nào là lần cuối cùng con để ý tới bãi cỏ thế?” cậu hỏi. “Có cỏ dại đây này.”
“Muộn rồi bố ạ,” mẹ tôi nói, giữ cánh cửa một cách thiếu kiên nhẫn.
Tôi tự hỏi cậu bé có phải là một trong số những học sinh của mẹ không. Đôi khi họ giúp mẹ khiêng dụng cụ ra vào chiếc xe tải chở hàng lớn và méo mó.
“Con cần phải chăm sóc ngôi nhà nếu muốn duy trì giá trị của nó,” cậu bé nói.
“Vào nhà ngay!”
Cậu bé miễn cưỡng cầm chiếc túi vải thô lớn và bước vào nhà chúng tôi.
Cậu trông không giống những đứa trẻ khác trong đoàn kịch - chúng thường mặc quần jeans và áo thun để làm việc dễ dàng hơn. Cậu bé này đang mặc một chiếc áo sơ mi sọc nhàu nhĩ, quần kaki polyeste, áo khoác có vá ở khuỷu tay và đeo đôi giày lười bằng da. Nhưng thứ nổi bật nhất tôi thấy được là đôi tất: tất váy màu đen. Ở chỗ tôi, nam sinh trung học không hay dùng đến chúng. Cứ như thể cậu bé này đang trên đường đến nghi lễ Bar Mitzvah(5) vậy.
Cậu ấy nhìn tôi chằm chằm với ánh mắt sắc nhọn: “Cháu có tên trên bảng danh dự chứ?”
Tôi giật mình, nhưng vẫn trả lời.
“Uh, nhưng nhà tớ vẫn chưa nhận được thông báo kết quả.”
Có điều gì đó ở cậu bé rất quen thuộc với tôi. Tóc màu nâu sẫm, hai bên bù xù và phần ngọn tóc được nhuộm màu xám. Một diễn viên trong chương trình biểu diễn của mẹ chăng?
“Cậu là ai?” Tôi hỏi. Cậu ta tảng lờ tôi.
“Cháu cần đạt điểm cao nếu muốn lấy bằng tiến sĩ, nó thực sự khốc liệt đấy.”
“Bằng tiến sĩ? Con bé mới có mười một tuổi thôi!” mẹ tôi nói.
“Con không cần chen lời quá sớm như thế. Nhân tiện,” cậu ấy nói, nhìn thẳng vào bộ quần áo của mẹ tôi, “đây là thứ con mặc đi làm đấy à?”
Mẹ tôi thích đột kích vào các tủ phục trang của nhà hát ở trường. Sáng hôm nay, mẹ rời khỏi nhà trong chiếc váy dài chạm sàn màu đen, phối rất hợp với áo khoác bolero, bên trong là một chiếc sơ mi trắng xếp nếp kiểu thi sĩ.
“Con nên xem xét mua một bộ âu phục đẹp,” cậu ấy gợi ý. 
“Con biết bố vẫn đang mắc kẹt ở Thời kỳ đồ đá,” mẹ tôi bật lại.
Rồi cậu bé quay lại nhìn tôi, ngắm nghía bộ đồ ngủ gồm áo ba lỗ ngắn và quần đùi boxer tôi đang mặc.
Cậu nói, “Sao đồ ngủ của cháu ngắn quá vậy? Bộ ngủ dài bị làm sao à? Cháu là một thằng nhóc dở hơi giống mẹ đấy à?”
“Bọn trẻ tuổi này đều mặc đồ ngủ như vậy,” mẹ trả lời thay tôi. “Và con không phải là một thằng nhóc dở hơi!”
“Con phải là một đứa trẻ điên rồ thì mới trốn khỏi nhà như thế,” cậu bé tiếp tục.
“Con đã yêu một người,” mẹ tôi nói qua hàm răng nghiến chặt.
“Và tấm bằng tiến sĩ thì bền vững hơn tình yêu,” cậu bé đáp. “Bây giờ quay lại trường chưa muộn đâu. Con vẫn có thể nhận được bằng thật.”
Điều gì đó về toàn bộ cuộc trò chuyện này gợn vào trí nhớ của tôi, giống một bộ phim tôi từng xem vậy. Tôi dường như đã biết về cậu bé với bộ tóc nửa màu xám, cái cách cậu ấy đứng rất tự nhiên trên sảnh nhà chúng tôi, cách tay phải của cậu xòe ra và nắm lại như nắm bắt thứ gì đó theo thói quen. Nhưng chiếc nhẫn vàng to dày đeo lỏng lẻo trên ngón tay giữa của cậu bé làm tôi chú ý. Đó là một chiếc nhẫn của trường, như loại bạn có khi đỗ đại học, nó trông mòn cũ với một viên ngọc quý màu đỏ ở giữa.
“Tớ từng nhìn thấy chiếc nhẫn đó trước đây,” tôi nói, và rồi tôi nhớ ra bàn tay của người đeo nó. Tôi nhìn thẳng vào cậu bé.
“Ông ngoại?” tôi thốt lên.

4

Ảo thuật gia

“Thế cháu nghĩ là ai?” ông hỏi. “Tiên răng(6) à?”
Ông trông như một cậu bé 13 tuổi, nhưng khi quan sát gần tôi có thể nhìn thấy những vết đồi mồi chân chim. Đôi mắt xanh của ông kèm nhèm. Những biểu hiện hơi quái gở ở phần miệng. Cách mà hai hàng lông mày của ông nhíu lại, gặp nhau ở giữa khuôn mặt.
“Đây có phải là một loại phép thuật không ạ?” tôi hỏi.
Ông cong môi và nhìn vào mẹ tôi. “Con đã dạy cháu gái bố tin vào phép thuật đấy à? Đây là điều đương nhiên khi cháu diễn vai chính trong các vở kịch nghệ.” Ông nói “kịch nghệ” như thể nó là một từ xấu xa.
“Gì cũng được bố ạ,” mẹ tôi nói, nghe như một thiếu niên đang chán chường. 
“Đây là khoa học, rõ ràng và đơn giản,” ông bảo tôi.
Nhưng tôi không nhận thấy điều gì đơn giản ở nó cả và chỉ lắc đầu.
Ông thở dài bực tức. “Rõ ràng quá còn gì. Ông đã thiết kế ra một cách để đảo ngược quá trình lão hóa thông qua tái tạo tế bào.”
............................

Chú thích:
(1) Tie-dye theo định nghĩa là sự nhuộm màu vải bằng cách buộc từng phần của vải lại để chỗ đó không bị ăn màu. Nhuộm tie-dye sẽ mang đến hiệu ứng ngẫu hứng cho màu sắc hiển thị trên mặt vải.
(2) Granola là một loại ngũ cốc ăn sáng phổ biến của người Mỹ. Được làm từ yến mạch, lạc, mật ong và một chút gạo.
(3) Một món ăn Trung Quốc được làm từ thịt gà và nấm
(4) Một bệnh lý về não tác động đến trí nhớ, suy nghĩ và hành vi
(5) Lễ trưởng thành của các cậu bé Do Thái khi bước vào tuổi 13
(6) Tiên răng là hình ảnh gắn bó với tuổi thơ của trẻ em các nước nói tiếng Anh. Nếu đứa trẻ đặt chiếc răng sữa vừa rụng xuống gối, một vị tiên sẽ đến trong giấc ngủ và cho đứa bé một ít tiền để đổi lấy chiếc răng.
Chú thích được tổng hợp từ các nguồn trên mạng Internet.