Trò chuyện cùng Đoàn Ánh Dương xung quanh “Không gian văn học đương đại”

- Chúc mừng Đoàn Ánh Dương về tập sách Không gian văn học đương đại (phê bình vấn đề và hiện tượng văn học) do Nxb. Phụ nữ vừa mới ấn hành. Anh có thể thuyết minh một cách ngắn gọn nhất về tập sách của mình?

+ Đó là một cách tôi đọc văn học Việt Nam đương đại. Ở đó, văn học không chỉ được nhìn nhận như là chính nó mà còn như là trường hợp đại diện cho các tiếp cận của tôi về văn hóa Việt Nam đương đại.

- Động cơ nào thôi thúc anh dấn thân lặn ngụp vào không gian văn học Việt Nam đương đại mà không phải là một không gian văn học khác?

+ Lịch sử văn học Việt Nam là mối quan tâm nghề nghiệp của tôi. Từ những quan sát của mình về văn học Việt Nam, tôi nhận thấy văn học từ sau Đổi mới (1986) có những biểu hiện rất đáng cân nhắc nếu muốn tìm hiểu về Việt Nam đương đại. Sau Đổi mới, văn chương và xã hội Việt Nam, 1986-2000, là đối tượng mà tôi đặc biệt thích thú và chú trọng. Cuốn sách vừa rồi là những tiếp cận thử nghiệm đầu tiên của tôi cho dự định nghiên cứu này.

- Để hoàn thành tập sách này, tôi nghĩ anh có nhiều thuận lợi, ví như anh đang đồng hành cùng văn học đương đại, đang đồng trải nghiệm bầu sinh quyển nơi văn học đương đại được tạo ra, đang thuộc về; ví như anh đang thực hiện đề tài nghiên cứu sinh về văn học đương đại; ví như anh đã từng là nghiên cứu viên Phòng Văn học đương đại của Viện Văn học… Vậy, đâu là những khó khăn chính, thưa anh?

+ Khoảng cách quá gần của những ký ức chính trị - xã hội, những kỷ niệm văn chương khiến việc phục dựng lại không gian tinh thần thời Đổi mới tưởng dễ dàng nhưng thực sự gặp nhiều khó khăn. Có quá nhiều điều mà việc kiểm kê thư tịch là không đủ cho sự hình dung về một thời đoạn nhiều xáo động. Một số người chứng đã không còn, và một số khác nữa thì ngại ngần việc gợi về quá khứ. Mà anh biết đấy, những gì chúng ta biết được về đời sống văn học đương thời chỉ là một phần nhỏ của phần nổi tảng băng chìm mà thôi… Nên những gì tưởng là thuận lợi như anh nghĩ té ra lại không hẳn như vậy. Ta không thuộc về một nơi chốn mà ngẫu nhiên ta được sinh ra, được đặt định vào đấy, nếu ta không lựa chọn nơi chốn ấy. Theo đó, trong suy nghĩ của tôi, điều thuận lợi nhất nằm ở trong những khó khăn làm nên thách thức tôi gặp phải trên đường chinh phục đối tượng nghiên cứu của mình.

- Có phải vì thế mà tôi nhận thấy trong cuốn sách này, anh đã dày công một cách hứng khởi tìm và gặp rồi dừng lại giải phẫu các vấn đề và hiện tượng văn học mà mình tâm đắc. Những đối tượng phê bình trong cuốn sách này đã đủ mang tính đại diện, cấu thành nên không gian văn học đương đại Việt Nam chưa, thưa anh? Còn những vấn đề và hiện tượng văn học nào mà anh cảm thấy tiếc khi chúng chưa kịp có mặt trong cuốn sách này?

+ Chữ “đại diện” anh dùng trong ngữ cảnh này gợi suy nghĩ về tính chất điển hình, những “đại diện tiêu biểu” của nền văn học đương đại. Tôi thường khi là không dùng chữ “đại diện” theo nghĩa ấy. “Đại diện” được tôi hiểu theo nghĩa là “trường hợp”, mang tính cá biệt nhiều hơn là mang tính loại hình. Một nhà văn chỉ là đại diện của chính anh ta, một tác phẩm chỉ là đại diện về chính nó, và chính điều này làm nên sự tồn tại của nhà văn và tác phẩm, chứ không phải ở trong sự vinh hạnh là điển hình hóa cho tha nhân và loại hình nghệ thuật mà nó thuộc về. Với tôi, hình dung về không gian văn học đương đại Việt Nam là có trước, các đại diện được lựa chọn đến sau, để quy tụ lại làm mạch lạc câu chuyện mà tôi muốn kể về văn hóa và văn học Việt Nam đương đại. Có lẽ đó là lý do để một số “đại diện” không xuất hiện trong cuốn sách này, như nhắc đến nữ quyền của/kiểu Võ Thị Hảo mà không nhắc đến Lê Minh Khuê, nhắc đến đạo đức và chính trị trong Nguyễn Bắc Sơn mà thiếu vắng Nguyễn Trung, nhắc đến đô thị trong Đỗ Phấn mà không có Nguyễn Việt Hà,… Nếu có cơ hội được trở lại với cuốn sách này, có lẽ tôi sẽ bổ sung thêm những “đại diện” khác nữa, để làm đa dạng hơn các trường hợp chứ không nhằm loại hình hóa các trường hợp ấy. Dẫu vẫn biết, ở cảm nghĩ thông thường, một lựa chọn đại diện rất thường khi được hiểu là một ghi nhận về mặt phẩm chất, nghĩa là nó nghiêng nhiều hơn về nghĩa tích cực. Nhưng trong nghiên cứu, sự chất vấn thường xuyên sự ổn định của ngôn ngữ (khái niệm) và phương pháp nghiên cứu để kích hoạt sự bất ổn của nó là một việc làm cần thiết, góp phần gia cố năng lượng sáng tạo.

- Nghĩa là phản tư luôn là một yêu cầu của nghiên cứu văn học. Để đọc văn học Việt Nam đương đại từ điểm nhìn hiện tại, anh trang bị cho mình những “cái đọc” tham chiếu nào? Tại sao?

+ Nắm chắc lịch sử văn học luôn mở ra những cơ hội nghiên cứu thú vị. Sự hình thành lý thuyết cũng phải bắt đầu từ sự chất vấn lịch sử văn học cụ thể, của những nền văn học cụ thể. Tham chiếu lý thuyết nước ngoài trong nhiều trường hợp, nhất là trong những vấn đề tương thích, luôn đem đến những diễn giải thú vị, bởi ta có được cái nhìn khác về nền văn học thân thuộc của mình.

- Cuốn sách anh công bố hiện diện như những thể nghiệm của anh trong những lĩnh vực phê bình văn học Việt Nam đương đại từ ở những phương pháp khác nhau như thi pháp học, cấu trúc luận, tự sự học, lí thuyết chấn thương, lí thuyết hậu thực dân,… Về nền phê bình văn học Việt Nam hiện nay, người thì phàn nàn đang thiếu tính chuyên nghiệp bởi thiếu lí thuyết, nặng về bình tán chủ quan, kẻ lại kêu đang có sự áp đặt, choàng tấm áo lí thuyết quá rộng lên cơ thể văn chương còm. Anh có thể bộc giãi quan điểm của mình về những lợi và hại của những lí thuyết đang được giới phê bình văn học Việt Nam vận dụng?

+ Như tôi vừa nói, lịch sử văn học và lí thuyết văn học là hai bệ đỡ quan trọng cho phê bình văn học. Lí thuyết được tôi hiểu như là sự suy tư và thao tác đi cùng với nó trong các nghiên cứu trường hợp. Một lí thuyết ra đời từ sự khảo sát trường hợp này, vì vậy, sẽ bị chất vấn bởi các khảo sát trường hợp tiếp sau, nơi nó bổ sung và chỉ ra những giới hạn của lí thuyết, làm cho lí thuyết trở nên năng động. Vận dụng là giết chết lí thuyết vì khi vận dụng thì lí thuyết không còn năng sản nữa. Vận dụng, ứng dụng lí thuyết chỉ cần thiết ở một mức độ nào đó trong học đường mà thôi, khi người ta hướng tới giáo dục học sinh sinh viên các thao tác khoa học chẳng hạn. Tiếc rằng mô hình này ở ta tràn ra cả ngoài học đường, được sử dụng quá dễ dãi và lâu dài, trở thành thói quen làm xơ cứng nghiên cứu văn học. Có lẽ đã đến lúc cần phải nhìn nhận sòng phẳng về vấn đề này để khoa học văn học có được chuyển biến.

- Như một hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hóa, đường hướng diễn giải các hiện tượng văn học hiện nay đang có sự dịch chuyển từ nội quan (xem tác phẩm là một chỉnh thể thẩm mĩ mang tính tự trị) sang ngoại quan (đặt nhà văn và tác phẩm vào không gian xã hội và văn hóa mà nhà văn thuộc về, tác phẩm sinh thành). Đọc cuốn sách của anh, tôi cảm nhận anh đang riết ráo đặt ra vấn đề tư cách trí thức, tiếng nói phản biện xã hội của nhà văn, và đến lượt, tư cách trí thức, tiếng nói phản biện văn chương của nhà phê bình. Anh có thể tường giải về vấn đề này?

+ Một số người muốn hình dung đây là hệ quả của bước chuyển hệ hình tư duy từ hiện đại sang hậu hiện đại, theo đó trong nghiên cứu văn học, phải là quá trình chuyển đổi từ nội quan sang nội-ngoại quan. Quan niệm này có điểm khả thủ của nó, tôi nghĩ giản dị hơn, nghiên cứu ngoại quan ở phía sau nội quan thì không thể vắng bóng các thao tác nội quan như nghiên cứu ngoại quan trước khi có nghiên cứu nội quan được. Nội-ngoại quan hay ngoại quan, ở thời điểm hiện tại này, sự khác biệt có lẽ ở tính chất hướng đến mục đích nhìn nhận văn học là tự trị hay là thành tố của văn hóa. Điều tôi muốn hướng tới ở đây là nghiên cứu văn hóa từ văn học. Mà ở một nước hậu thuộc địa như Việt Nam thì diễn ngôn văn học luôn luôn biểu hiện nhiều hơn chính nó. Nghiên cứu văn học, theo đó, luôn là một cách thức tham dự vào cuộc đời này.

- Chúng ta đang thuộc về thời đại đa văn hóa, do vậy, nếu ai đó quá tự tin với tri kiến cá nhân, tham vọng độc chiếm, sở hữu chân lí thì sẽ thành lố bịch. Đọc tập sách của anh, tôi rất thích cái cách thế anh chia sẻ, giãi bày suy niệm, khơi vẫy đối thoại về các vấn đề, hiện tượng văn học nhiều hơn là kết luận, khẳng định. Anh có thể nói thêm về điều này?

+ Không nên có độc quyền, dù là độc quyền bất cứ điều gì. Để dùng một so sánh khập khiễng với lối nói của Nam Cao, cẩu thả trong văn chương cũng giống như độc quyền trong nghiên cứu, nếu cẩu thả nâng cấp sự bất lương lên mức đê tiện thì độc quyền cũng nâng cấp sự lố bịch lên mức đê tiện như thế. Chúng ta phải loại bỏ sự ngẫu nhiên đạo đức trong mọi lĩnh vực của đời sống. Phê bình đối với tôi không phải là khen chê, mà chỉ là trình bày một cách đọc. Nói cách khác, phê bình là sự triển diễn đời sống của sinh thể văn học khởi đi từ nơi mà nhà văn dừng lại, cung cấp cho nó đời sống khác trong không gian khác, trong cuộc chạy tiếp sức không cùng nhằm khám phá chiều sâu ẩn mật của hiện hữu con người.  

- Vâng, cảm ơn Đoàn Ánh Dương vì cuộc trò chuyện thú vị này. Chúc anh trường sức trong cuộc dấn thân mà mình đã chọn.

Viết bình luận

Bạn đã gửi bình luận thành công. Xin cảm ơn!